ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI TRƯỜNG HÓA VÀ KHOA HỌC SỰ SỐNG VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC & CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM BÀI TẬP LỚN MÔN: THIẾT KẾ THIẾT BỊ TRUYỀN NHIỆT CHUYỂN KHỐI ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ THIẾT BỊ CHƯNG CẤT TINH DẦU SẢ CHANH NĂNG SUẤT 200KG/MẺ SVTH: Phan Minh Hiếu – 20201144 Nguyễn Hữu Vinh – 20240777E Nguyễn Quốc Thắng – 20240767E Trần Văn Hiệp – 20240771E GVHD: Nguyễn Ngọc Hoàng HÀ NỘI, 1/2025 1 MỤC LỤC PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Tổng quan về tinh dầu và phương pháp sản xuất tinh dầu.1 Khái niệm về tinh dầu. Tính chất vật lý và các thành phần hóa học của tinh dầu.2 Phương pháp chưng cất tinh dầu. Nguyên tắc phương pháp.
Ưu nhược điểm của phương pháp chưng cất. Các phương pháp khác.1 Phương pháp cơ học. Phương pháp trích ly. Phương pháp hấp thụ.
Phương pháp lên men. Giới thiệu về cây sả, tinh dầu sả.1 Giới thiệu về cây sả. Các bộ phận cây sả dùng làm thuốc.15 PHẦN 2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT. Quy trình chưng cất tinh dầu sả.
Thuyết minh quy trình. Xử lý nguyên liệu. Chưng cất. Ngưng tụ.19 PHẦN 3: TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ THIẾT BỊ.
Cân bằng vật chất và năng lượng. Các thông số giả định. Nguyên liệu sả chanh. Cân bằng vật liệu.
Nhiệt độ chưng cất. Nhiệt lượng cung cấp cho nồi chưng. Tính toán thiết bị chưng cất. Tính chiều cao và đường kính thiết bị.
Nắp, đáy thiết bị. Tính bền cho thiết bị chưng cất. Chọn bích nối thiết bị. Tính giỏ chứa nguyên liệu.
Thiết bị ngưng tụ. Các thông số đã biết. Xác định bề mặt truyền nhiệt. Diện tích bề mặt truyền nhiệt trong giai đoạn ngưng tụ tại nhiệt độ 100 0C.
Diện tích bề mặt truyền nhiệt trong giai đoạn làm lạnh. Tính dày cho thiết bị ngưng tụ. Khối lượng thiết bị ngưng tụ. Khối lượng ống truyền nhiệt.
Khối lượng mực nước trong thiết bị. Tính tai treo. Tính kích thước các ống nối. Kích thước trong của ống dẫn nước vào, ra thiết bị ngưng tụ.
Ống dẫn hơi tinh dầu. Đường kính của ống dẫn hỗn hợp tinh dầu ra. Ống tháo khí không ngưng. Thiết bị phân ly.51 PHẦN 4: KẾT LUẬN.54 TÀI LIỆU THAM KHẢO.55 4 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Tổng quan về tinh dầu và phương pháp sản xuất tinh dầu 1.1 Khái niệm về tinh dầu Tinh dầu là những hỗn hợp khác nhau của những chất bốc hơi nguồn thực vật (rất ít khi có nguồn gốc động vật), các chất này thường có mùi thơm và có cấu tạo, tính chất, điểm chảy, điểm sôi, độ tan trong nước hay trong các dung môi rất khác nhau, phần lớn chúng không tan, chính xác là ít hay rất ít tan trong nước. Các hợp phần của tinh dầu hòa tan lẫnvào nhau. Nếu một lượng tinh dầu nào đó là một khối đồng nhất (một pha), nó sẽ bắt đầu sôi ở một nhiệt độ phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ các hợp chất trong nó. Tính chất vật lý và các thành phần hóa học của tinh dầu -Tính chất vật lý của tinh dầu Tinh dầu thường tồn tại dạng thể lỏng ở nhiệt độ thường, mùi thơm, ít khi có màu trừ tinh dầu chứa aluzen có màu xanh .Tinh dầu có tỉ trọng thấp so với nước, chỉ số khúc xạ cao.
Tinh dầu bay hơi được, ít tan trong nước nhưng làm cho nước có mùi thơm, tinh dầu là hỗn hợp nên không có nhiệt độ sôi nhất định, nhiệt độ sôi thường cao trên 200°C. Tinh dầu tan trong cồn, ete, dung môi hữu cơ và các chất béo. -Thành phần hóa học của tinh dầu Tinh dầu là một loại chất lỏng được tinh chế (thông thường nhất là bằng cách chưng cất bằng hơi hoặc nước) từ lá cây, thân cây, hoa, vỏ cây, rễ cây, hoặc những thành phần khác của thực vật. Tinh dầu được ví như là nhựa sống của cây, vì vậy đã mang sức sống, năng lượng và mạnh hơn 100 lần các loại thảo dược sấy khô.
Hầu hết các loại tinh dầu đều trong, ngoại trừ vài loại tinh dầu như dầu cây hoắc hương, dầu cam, "lemongrass" thì đều có màu vàng hoặc hổ phách. Bất kỳ một loại tinh dầu nào cũng đều có những thành phần sau: Monoterpenes: Tìm thấy trong hầu hết các loại tinh dầu. Monoterpenes có công thức phân tử là C10H16 là chất khử trùng và thuốc bổ trong tự nhiên. Chúng được lọc không khí tốt mà có khoảng 10 nguyên tử cacbon trong đó.
Mặc dù Monoterpenes có mặt trong hầu hết các tinh dầu khác, một tỷ lệ lớn trong số họ được tìm thấy trong các loại dầu Citrus. Họ là không màu, rất dễ bay hơi và xấu đi nhanh chóng. Do đó, họ cần 5 phải được xử lý với việc chăm sóc và giữ ở nhiệt độ mát mẻ. Limonene hàng tại Lemon dầu, pinen hàng tại Pine và camphene hàng tại Long não là những ví dụ của các loại tinh dầu.
Sesquiterpene: Mặc dù không phải là dễ bay hơi như Monoterpenes, sesquiterpene có hiệu quả và có khoảng 152 nguyên tử cacbon trong đó. Họ có một tác dụng làm dịu, là chống viêm và chống nhiễm trùng. Zingiberene trong dầu gừng, cedrene tại Cedarwood và caryophellene trong dầu đinh hương là một trong những sesquiterpene tìm thấy trong các loại tinh dầu. Phenol: Các chất khử trùng hầu hết hóa chất có trong thực vật, kích thích cơ thể phenol chức năng với liều lượng nhỏ.
Tuy nhiên, liều lớn có thể là một chất độc cho hệ thần kinh và có thể gây kích ứng da cũng như các tiện nghi tiêu hóa cho những người nhạy cảm. Thymol hàng tại Thyme dầu và eugenol hàng tại Đinh hương là những ví dụ của phenol. Rượu: Rất nhiều rượu cũng có mặt trong các loại tinh dầu. Cao chất sát trùng, kháng khuẩn, chống nấm rượu và thuốc kháng sinh, thuốc bổ rất tốt cho hệ thần kinh và kích thích phản ứng miễn dịch trong cơ thể.
Lavendulol trong Lavender, nerol trong Neroli và geraniol hàng tại Géranium dầu là những ví dụ của rượu trong các loại dầu. Xeton: Thuốc chống đông máu, Xeton có thể thư giãn, nghiêm trang và chữa lành các mô sẹo, hệ thống miễn dịch hoặc hệ thống hô hấp trong cơ thể. Tuy nhiên, Xeton có thể có hại cho hệ thần kinh và có thể dẫn đến sẩy thai, co giật và bệnh động kinh. Ete/ Este: Ête và este có tính chất tương tự nhưng ete là mạnh mẽ hơn của cả hai.
Chống co thắt, kháng khuẩn và chống viêm, ete là nhẹ nhàng trên da và giúp đỡ trong việc tái cân bằng của hệ thần kinh có hiệu quả. Cinnamyl acetate trong Quế và myrtinly acetate trong Myrtle. Aldehyt: chống viêm, Aldehyt có tính chất tương tự như Xeton và cồn. Tuy nhiên, vượt Aldehyt có thể gây ra kích thích lớn cho da và các màng nhầy.
Furfurol trong Lavender, Đàn hương, quế và Cypress là aldehyt. Coumarin: Anti-convulsant và chống đông, coumarin và thuốc an thần có tác dụng thư giãn. Khi các hóa chất này có thể được cảm quang, các loại tinh dầu với các thành phần càn được sử dụng cẩn thận và không được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. 6 Bergaptene ừong Bergamot, angelicine trong Angelica và Citroptene trong các loại dầu Citrns là những ví dụ của coumarin.2 Phương pháp chưng cất tinh dầu 1.
Nguyên tắc phương pháp Phương pháp này dựa trên sự khuếch tán, thẩm thấu, hòa tan và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa trong các mô thực vật (hoa, lá, vỏ quả, hạt, thân, cành, rễ, .) khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao. Điều quan trọng là tính chất giảm nhiệt độ sôi của hỗn hợp các cấu tử không hòa tan vào nhau. Chính điều này làm cho phương pháp chưng cất trở nên có ý nghĩa. Cơ sở lí thuyết Sự khuếch tán, thẩm thấu, hòa tan Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn rồi đưa vào chưng cất thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu là bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi.
Phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩm thấu. Ta có thể mô tả quá trình này như sau: “Ở nhiệt độ nước sôi, một phần tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật. Dung dịch chứa tinh dầu này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước lôi cuốn đi. Còn nước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục hòa tan vào lượng nước này.
Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoài hết.” Sự khuếch tán, hòa tan, thẩm thấu sẽ dễ dàng khi tế bào chứa tinh dầu trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa. Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sử dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô. Nhưng nếu lượng nước sử dụng thừa quá cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa những cấu phần tan dễ trong nước. Ngoài ra, nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp này đồng đều và dễ dàng.
7 Chưng cất – Sự lôi cuốn theo hơi nước Chưng cất có thể hiểu đơn giản là một quá trình biển đổi một cấu tử hay một hỗn hợp nhiều cấu tử ở thể lỏng thành thể hơi rồi sau đó ngưng tụ trở lại thành thể lỏng. Sau quá trình đó, thành phần, hàm lượng cấu tử thu được sẽ biến đổi so với hỗn hợp đầu. Đồng thời ta đã tách được cấu tử cần thiết ra khỏi hỗn hợp đầu. Nước có nhiệt độ sôi 100°C, tinh dầu có nhiệt độ sôi thường khoảng trên 200°C.
Vậy tại sao ta có thể lôi cuốn tinh dầu theo hơi nước được? Đó là nhờ đặc tính giảm nhiệt độ sôi của hỗn hợp các chất lỏng không hòa tan vào nhau. Nhiệt độ sôi của hỗn hợp các cấu tử không hòa tan vào nhau dù ở bất kì tỉ lệ nào cũng đều như nhau và luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng cấu tử riêng biệt. Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà đã từ rất lâu phương pháp chưng cất hơi nước được dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu thực vật. Lúc này ta coi như có hỗn hợp 3 cấu tử là nước, Citral, Geraniol không hòa tan vào nhau.
Nhiệt độ sôi của hỗn hợp này khi đó sẽ luôn là dưới 100°C. Nhờ vậy Citral, Geraniol sẽ bay hơi cùng với nước thoát ra, ta thu được hỗn hợp gồm 3 cấu tử trên. Kết quả là đã tách được Citral, Geraniol từ trong tể bào củ xả ra thành hỗn hợp nước, Citral, Geraniol.