Khoá luận tốt nghiệp đại học thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới

Bài giảng hóa học về Khoá luận tốt nghiệp đại học thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học, trình bày ngắn gọn nội dung chính, minh họa ví dụ thực

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2013

148
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. DANH MỤC

1.1. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.2. DANH MỤC CÁC BẢNG

1.3. DANH MỤC CÁC HÌNH

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1. Các giáo trình, tài liệu viết về mở đầu và củng cố bài giảng

2.1.2. Các đề tài nghiên cứu về mở đầu và củng cố bài giảng

2.2. BÀI GIẢNG HÓA HỌC

2.2.1. Khái niệm bài giảng

2.2.2. Phân loại bài giảng

2.2.3. Cấu trúc bài giảng

3. NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI

3.1. QUY TRÌNH THIẾT KẾ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ BÀI GIẢNG

3.2. PHẦN MỞ ĐẦU MỘT SỐ BÀI HÓA HỌC LỚP 11 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI

3.3. PHẦN CỦNG CỐ MỘT SỐ BÀI HÓA HỌC LỚP 11 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI

4. MỘT SỐ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM

4.1. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM

4.1.2. ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM

4.1.3. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM

4.1.4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

4.2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHẦN MỞ ĐẦU VÀ CỦNG CỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thiết kế phần mở đầu

Phần mở đầu trong bài giảng môn Hóa học lớp 11 đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút sự chú ý của học sinh. Thiết kế phần mở đầu cần phải được thực hiện một cách sáng tạo và hấp dẫn để khơi dậy hứng thú học tập. Theo nghiên cứu, một phần mở đầu hiệu quả không chỉ giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức mới mà còn tạo ra một không khí thân thiện giữa giáo viên và học sinh. Việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, như trò chơi, câu hỏi mở, hoặc các tình huống thực tiễn, có thể làm cho phần mở đầu trở nên sinh động hơn. Như một giáo viên đã từng nói: "Ba phút mở đầu sẽ dẫn dắt cả buổi học". Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chuẩn bị kỹ lưỡng cho phần mở đầu. Hơn nữa, việc củng cố bài giảng cũng cần được chú trọng, vì nó giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học và tạo điều kiện cho việc áp dụng vào thực tiễn.

1.1. Nguyên tắc thiết kế phần mở đầu

Nguyên tắc thiết kế phần mở đầu cần phải dựa trên mục tiêu học tập và đặc điểm của học sinh. Đổi mới phương pháp giảng dạy là một yếu tố quan trọng trong việc thiết kế phần mở đầu. Giáo viên cần xác định rõ nội dung bài học và lựa chọn hình thức mở đầu phù hợp. Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, như thảo luận nhóm hoặc hoạt động thực hành, có thể giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn. Một nghiên cứu cho thấy rằng, khi học sinh được tham gia vào các hoạt động mở đầu, họ sẽ có xu hướng tiếp thu kiến thức tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần phải linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp khác nhau để phù hợp với từng bài học cụ thể.

II. Củng cố bài giảng

Củng cố bài giảng là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Củng cố bài giảng không chỉ giúp học sinh ôn lại kiến thức mà còn tạo cơ hội để giáo viên đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh. Theo IACÔPLEP, "Củng cố bài là một khâu không thể thiếu trong quá trình giảng dạy. Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng". Việc củng cố có thể được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ việc đặt câu hỏi cho đến việc tổ chức các trò chơi học tập. Điều này không chỉ giúp học sinh nhớ lâu hơn mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực. Hơn nữa, việc củng cố bài giảng cũng giúp giáo viên nhận diện được những khó khăn mà học sinh gặp phải, từ đó có những điều chỉnh phù hợp trong quá trình giảng dạy.

2.1. Phương pháp củng cố hiệu quả

Để củng cố bài giảng một cách hiệu quả, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp phù hợp với nội dung bài học và năng lực của học sinh. Việc sử dụng các hình thức củng cố đa dạng, như thảo luận nhóm, bài kiểm tra ngắn, hoặc các hoạt động thực hành, có thể giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Một nghiên cứu cho thấy rằng, khi học sinh tham gia vào các hoạt động củng cố, họ sẽ có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần phải linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp khác nhau để phù hợp với từng bài học cụ thể.

III. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Đổi mới phương pháp giảng dạy là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Đổi mới phương pháp giảng dạy không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực cho học sinh. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, như học tập dựa trên dự án, học tập trải nghiệm, hay học tập hợp tác, có thể giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Theo một nghiên cứu, việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và khả năng làm việc nhóm. Điều này cho thấy rằng, việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

3.1. Lợi ích của việc đổi mới phương pháp

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và học sinh. Đối với giáo viên, việc áp dụng các phương pháp mới giúp họ nâng cao kỹ năng sư phạm và tạo ra những bài giảng hấp dẫn hơn. Đối với học sinh, việc học tập trở nên thú vị và hiệu quả hơn, giúp các em phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. Một nghiên cứu cho thấy rằng, học sinh tham gia vào các hoạt động học tập tích cực có xu hướng đạt kết quả học tập cao hơn. Điều này chứng tỏ rằng, việc đổi mới phương pháp giảng dạy không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cần thiết trong giáo dục hiện đại.

12/02/2025
Khoá luận tốt nghiệp đại học thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông theo hướng đổi mới

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu bài giảng là một trong những yếu tố quyết định tính toàn vẹn của bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho HS, tạo không khí hứng khởi cho các em khi bắt đầu vào bài học mới. - Tổ chức sơ bộ lớp học nhằm đảm bảo hoàn cảnh bên ngoài bình thường đối với công việc và ổn định về mặt tâm lý cho HS trước khi học bài mới. - Tạo không khí thân thiện, tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò giúp cho bài học được tiến hành một cách nhẹ nhàng thoải mái. - Thể hiện sự quan tâm của GV đến tình hình lớp học thông qua việc kiểm tra sĩ số và lí do vắng mặt của HS từ đó có biện pháp giúp đỡ các em nắm được bài học và theo kịp bạn bè.

- Chuẩn bị cho HS tiếp thu tri thức mới gây sự chú ý, kích thích tính tò mò ham hiểu biết, mong chờ được tiếp nhận tri thức. - Củng cố lại kiến thức cho HS thông qua việc kiểm tra bài bằng các hình thức đàm thoại, đặt câu hỏi, giải bài tập. - Đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho HS từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp. Ngoài ra còn rèn luyện cho HS cách diễn đạt, tái hiện lại những tri thức đã tiếp thu.

- Kiểm tra kiến thức và kỹ năng của một số HS để đánh giá tiết học. Vận dụng qui luật hướng đích giúp HS hình dung công việc của tiết học, nội dung trọng tâm cần phải nắm được trong giờ lên lớp đó. - Sử dụng các hình thức mở bài đa dạng tránh gây nhàm chán, lơ là trong học tập đối với HS. Đặc biệt thông qua các phương tiện trực quan HS sẽ ngày càng hứng thú và yêu thích bộ môn hơn.

15 - Bằng việc liên hệ thực tế để vào bài giúp cho HS có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng thực tế xung quanh các em. Ngoài ra còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, thấy được mức độ quan trọng của việc ứng dụng hóa học vào đời sống hằng ngày.  Một giờ học mở đầu tốt coi như đã thành công được một nửa. Những yêu cầu khi mở đầu bài giảng Để một mở bài được thực hiện tốt GV phải rèn luyện nhiều thông qua một số yêu cầu sau: - Nắm được tâm lý, trình độ HS: + Tạo không khí vui vẻ, thoải mái khi mới bắt đầu bước vào lớp học.

+ Thông qua cử chỉ chào hỏi tạo cảm giác gần gũi, thân thiện từ phía HS. + Thể hiện sự quan tâm đến các em thông qua việc điểm danh hỏi thăm lý do vắng mặt của HS (nếu có). - Gây sự chú ý ngay từ đầu và duy trì suốt giờ học: + Nói to, chậm, nhắc lại nhiều lần các vấn đề trọng tâm, sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề. + Khi viết bảng thường gạch chân, đóng khung hoặc viết phấn màu các phần quan trọng, nhấn mạnh sự chú ý cho HS.

+ Sử dụng các phương tiện trực quan để mở đầu bài giảng như: hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, thí nghiệm hoặc mô hình đôi khi là một đoạn video tùy từng loại bài giảng, tùy từng nội dung bài học và điều kiện vật chất của trường. + Liên hệ thực tế, nói vui, nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết học, tập trung sự chú ý của HS. Nói tóm lại tùy từng nội dung giảng dạy, tùy từng trình độ học sinh, tùy vào điều kiện vật chất của từng trường mà giáo viên nên chọn các hình thức vào bài phù hợp. Thậm chí phải phối hợp nhiều phương pháp nhằm gây hứng thú cho học sinh, tránh sự lặp lại, nhàm chán.

Muốn vậy, người giáo viên phải không ngừng rèn luyện các kỹ năng dạy học, các năng lực chuyên môn lẫn kiến thức xã hội giúp cho chất lượng bài giảng ngày càng phong phú và hiệu quả hơn. Một số hình thức mở đầu bài giảng Đối với mỗi kiểu bài lên lớp, mỗi bài học cụ thể và thời gian cho phép, hình thức mở đầu có khác nhau. Không có kiểu mở bài nào là tốt nhất. Bí quyết thành công là sự đa dạng và sáng tạo.

Giáo viên có thể mở bài bằng cách làm một điều gì khác thường hay bất ngờ khiến cho học sinh phải ngạc nhiên. Trịnh Văn Biều [9], có thể kể ra 7 kiểu mở đầu sau: • Hình thức 1: Vào bài theo phương pháp dẫn dắt logic. Giáo viên dẫn dắt từ kiến thức bài cũ sang bài mới bằng mối liên hệ logic hoặc đi từ kiến thức tổng thể chung đến kiến thức bộ phận của bài học. VD: Khi dạy bài “AMONIAC VÀ MUỐI AMONI”, GV có thể vào bài một cách đơn giản bằng cách dẫn dắt từ bài trước: “Tiết trước, chúng ta đã học xong bài “NITƠ”.

Hôm nay, cô và các em sẽ cùng tìm hiểu thêm những hợp chất quan trọng của nitơ đó là: “ Amoniac và muối amoni””. • Hình thức 2: Vào bài theo phương pháp kể chuyện. Kể một câu chuyện, một mẩu chuyện vui (có liên quan đến bài chuẩn bị dạy) rồi từ kiến thức trong câu chuyện dẫn vào bài học. VD: Có thể kể chuyện về lịch sử ra đời của axetilen để vào bài “ANKIN”.

GV cung cấp thêm: “Axetilen là chất đầu tiên trong dãy đồng đẳng của Ankin. Hôm nay, cô và các em sẽ cùng nhau tìm hiểu về Ankin qua bài học cùng tên”. • Hình thức 3: Vào bài bằng việc liên hệ thực tế. Giáo viên qua một câu chuyện, một ví dụ thực tế rồi dẫn dắt vào bài mới.

Kiểu vào bài này giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, mong muốn giải thích được các hiện tượng xung quanh các em. Ngoài ra nó còn làm cho học sinh yêu thích môn học do thấy mức độ quan trọng của hóa học trong đời sống hằng ngày. 17 VD: Khi giảng dạy bài “PHÂN BÓN HÓA HỌC’’, GV có thể thiết kế hoạt động vào bài bằng câu hỏi: Hãy giải thích hiện tượng sau: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên’’ • Hình thức 4: Vào bài theo phương pháp trực quan. Cho học sinh xem những vật thật, mô hình, bức tranh hay bằng thí nghiệm hóa học, thường tạo nên những ấn tượng mạnh.

Thông qua các phương tiện trực quan học sinh sẽ ngày càng hứng thú và yêu thích bộ môn hơn. VD: Khi giảng dạy phần hiđrocacbon lớp 11, giáo viên có thể sử dụng mô hình phân tử để vào bài. • Hình thức 5: Vào bài theo phương pháp đặt câu hỏi. Giáo viên đặt một câu hỏi thách đố, khêu gợi trí tò mò sau đó dẫn dắt vào bài mới: “ Để trả lời câu hỏi trên chúng ta hãy nghiên cứu bài .’’ VD: Khi dạy bài “CACBON” có thể đặt câu hỏi vào bài như sau: “Tại sao than chì rất mềm còn kim cương lại rất cứng, mặc dù chúng đều cấu tạo từ cacbon ?”.

• Hình thức 6: Vào bài bằng phương pháp kiểm tra. Gọi học sinh trả lời câu hỏi hay giải bài tập (đứng tại chỗ hoặc lên bảng) rồi từ kiến thức trong nội dung kiểm tra dẫn vào bài học. VD: Khi dạy bài: “Mối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic’’, GV có thể đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ để dẫn dắt vào bài. Viết các phương trình hóa học thực hiện chuỗi biến hóa sau: 18 C 2 H 4  C 2 H 6  C 2 H 5 Cl  C 2 H 5 OH  CH 3 CHO  CH 3 COOH Sau đó, GV gọi một HS khác dựa vào chuỗi biến hóa trên ghi thành sơ đồ tổng quát: Dẫn xuất Hirocacbon + H2/Ni,t0 Hirocacbon +X2,as không no no halogen +dd HX +dd NaOH Oxi hóa Axitcacboxylic Oxi hóa Andehit Rượu (Nếu là Hidro hóa R-CH2OH) R-COOH R-CH=O Hình 1.

Mối liên quan giữa hidrocacbon, rượu, andehit và axit cacboxylic • Hình thức 7: Vào bài bằng phương pháp tổ chức hoạt động tập thể. Cho cả lớp giải một bài tập hay thực hiện một nhiệm vụ rồi dẫn dắt vào bài giảng. VD: Khi dạy bài “PHENOL’’, GV có thể đưa ra một bài tập cho cả lớp làm. Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa các hợp chất dưới đây: OH HO OH CH2 OH CH3 (A) (B) (C) OH (D) GV tiếp nhận câu trả lời của HS và cung cấp cho HS: (A), (B), (D) có nhóm - OH liên kết trực tiếp với vòng benzen còn (C) thì nhóm - OH không liên kết trực 19 tiếp với vòng benzen, (C) là ancol thơm.

Ba hợp chất còn lại được gọi là Phenol. Từ đó, GV dẫn dắt vào bài “PHENOL’’. CỦNG CỐ BÀI GIẢNG 1. Phân loại • Củng cố từng phần và củng cố toàn bài.

- Củng cố từng phần: + Chốt lại những ý chính của phần đó. + Đặt ra vấn đề mới mà kiến thức vừa lĩnh hội có thể giải quyết được. - Củng cố toàn bài: + Sơ bộ ôn luyện những kiến thức trọng tâm của bài. + Giáo viên vận dụng các phương pháp thích hợp để khắc sâu kiến thức và mang lại hứng thú học tập cho học sinh.

Nhìn chung vấn đề củng cố bài không chỉ dừng lại trong một tiết học. Việc củng cố thường được lặp lại ở những bài học tiếp theo với nội dung kiến thức tương tự hoặc bổ sung cho nhau. • Củng cố bước đầu và củng cố tiếp theo. Củng cố tiếp theo nhằm mục đích khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh đồng thời kiểm tra học sinh lĩnh hội tài liệu một cách có ý thức hay không.

Có nhiều học sinh hiểu bài nhưng không vận dụng được vào thực tế, giải bài tập, do đó giáo viên không chỉ củng cố sơ bộ trong một tiết học mà còn phải củng cố tiếp theo. VD: Dạng bài tập lập công thức phân tử của các hợp chất hữu cơ cứ lặp đi lặp lại trong chương trình hóa học lớp 11 và hóa học lớp 12. Củng cố tiếp theo được thực hiện bằng kiểm tra thường kì các kiến thức đã học. Thông qua: - Khi nghe bạn trả lời, HS tái hiện bài học trong trí nhớ và sửa chữa những nhận thức sai của mình.

20 - Khi làm bài kiểm tra viết, làm thí nghiệm. - Tiếp thu tri thức mới trên nền tảng kế thừa tri thức cũ. Giáo viên dựa vào những điều đã học để ôn tập thì hiệu quả của việc củng cố sẽ được nâng lên. Như vậy tri thức cũ sẽ là nền tảng để tiếp thu tri thức mới, còn cái mới lại là sự mở rộng đào sâu từ cái cũ.

Nhờ đó tri thức mà học sinh tiếp nhận sẽ logic chặt chẽ hơn. - Các quá trình học tập ngoài lớp như: quan sát và giải thích các hiện tượng trong cuộc sống, tham quan các quy trình sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thiết kế phần mở đầu và củng cố bài giảng môn Hóa học lớp 11 theo hướng đổi mới là một bài viết chuyên sâu về phương pháp giảng dạy hiện đại, tập trung vào việc cải tiến cách thức mở đầu và kết thúc bài giảng môn Hóa học lớp 11. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo hứng thú ngay từ đầu và củng cố kiến thức một cách hiệu quả, giúp học sinh tiếp thu bài tốt hơn. Các phương pháp được đề cập bao gồm sử dụng câu hỏi gợi mở, ví dụ thực tế, và hoạt động tương tác để kích thích tư duy và sự sáng tạo của học sinh. Đây là tài liệu hữu ích cho giáo viên muốn áp dụng đổi mới trong giảng dạy, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hiện đại đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo.

Để mở rộng kiến thức về phát triển năng lực học sinh thông qua phương pháp dạy học STEM, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học STEM chương amin amino axit protein hóa học 12. Nếu quan tâm đến việc phát triển năng lực tư duy trong dạy học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong dạy học chương là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, để tìm hiểu về phương pháp dạy học dự án, bạn có thể xem Sáng kiến vận dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy phần giáo dục kinh tế môn giáo dục kinh tế và pháp luật 10. Mỗi bài viết này đều mang đến những góc nhìn mới mẻ và bổ ích, giúp bạn nâng cao hiệu quả giảng dạy và phát triển năng lực học sinh.