CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LY HỢP.1 Thực trạng và xu hướng phát triển ngành ô tô. Trên thế giới. Sau hơn 200 năm phát triển, những chiếc ôtô hiện đại đang dần trở nên thông minh hơn bao giờ hết. Chúng không chỉ được hoàn thiện về kiểu dáng mà còn được trang bị những tính năng thông minh nhất, giúp chiếc xe được an toàn hơn, trải nghiệm lái thú vị hơn và mang đến những tiện ích thiết thực phục vụ cho cuộc sống hiện đại của con người.
Một chiếc xe thông minh hơn. Với những tính năng thông minh, không quá phức tạp như ra lệnh bằng giọng nói, tự động điều khiển nhạc, gọi điện thoại… đã mang lại những trải nghiệm lái xe thú vị. Việc tận hưởng đầy đủ các tiện ích giải trí trên xe đôi khi cũng có thể dẫn đến sự mất tập trung. Cùng với đó, công nghệ xe tự hành ngày càng phát huy tác dụng.
Những chiếc xe hơn hiện đại ngày nay có thể tự động giảm tốc độ nếu chúng nhận thấy tình hình giao thông có vấn đề, thậm chí sở hữu nhiều yếu tố tinh tế hơn như tính năng cảnh báo chệch làn đường, cảnh báo khi người lái xe có dấu hiệu mất tập trung hay dựa vào bản đồ để tự động giới hạn tốc độ tối đa theo từng cung đường. Tất cả những tính năng kể trên, suy cho cùng thì vẫn nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn cho con người, do đó có thể khẳng định rằng một chiếc xe càng thông minh thì sẽ càng an toàn và thân thiện với người dùng.Công nghệ mô phỏng mới giúp cải thiện đáng kể độ an toàn cho xe tự lái. Công nghệ tự lái. Trên thực tế, những tính năng liên quan đến công nghệ tự lái đã được trang bị trên khá nhiều mẫu xe hạng sang tới từ các nhà sản xuất hàng đầu về công nghệ an toàn trên xe hơi hiện nay như Audi, BMW hay Volvo.
Tuy nhiên, việc tự mình điều khiển thay vì phó mặc cho xe tự lái là điều người sử dụng thích thú hơn. Vì thế, công nghệ tự lái chỉ nên được tích hợp như một tính năng tùy chọn để góp phần hỗ trợ con người. Phanh thông minh cho phép chiếc xe tự động nhấn chân phanh khi hình ảnh thu được từ camera và cảm biến phía trước cho thấy đó là một tình huống không an toàn. Hoặc tính năng “lùi chuồng tự động” cũng rất hữu ích trong nhiều tình huống đòi hỏi kỹ năng lái xe giàu kinh nghiệm.
Những tính năng thông minh này đã được các nhà sản xuất xe hơi lớn trên thế giới áp dụng thực sự thành công. Tự biết mình cần gì. Người lái sẽ cảm thấy “nhẹ đầu” hơn bao giờ hết bởi những công nghệ được trang bị trên những chiếc xe hiện đại. Ngày nay, hệ thống máy tính sẽ tự nhận biết tình trạng của xe, xem chiếc xe cần gì hay đang gặp vấn đề ra sao, rồi từ đó thông báo cho người lái.
Bên cạnh đó, các tính năng thông minh cũng góp phần giúp cho việc duy trì, bảo trì xe trở nên đơn giản hơn, từ đó giúp chiếc xe bền bỉ hơn, đồng thời tiết kiệm chi phí bảo dưỡng xe.Hệ thống máy tính sẽ tự nhận biết tình trạng của xe và thông báo với người lái. Thông minh đi cùng tiện lợi. Những công ty công nghệ lớn hiện nay như Apple, Google không ngừng chau chuốt các tiện ích dành riêng cho xe hơi như CarPlay và Android Auto, giúp chiếc xe không chỉ là phương tiện đi lại, mà còn đóng vai trò như một người giúp việc mẫn cán. Một chiếc xe hơi có thể biến thành văn phòng làm việc hoặc giải trí.
Những tính năng thông minh có thể giúp bạn theo dõi hiệu suất và lên kế hoạch bảo trì cho chiếc xe, trong khi vẫn cập nhật cho bạn về các sự kiện cũng như lịch trình sắp tới… Hình 1.Một chiếc xe thông minh đi kèm nhiều tiện ích. Hiện nay tất cả các nhà nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất ôtô đang tập trung phát triển công nghệ theo ba xu hướng chính và sẽ gắn kết với nhau để tạo thành một khối cùng phát triển trong tương lai không xa. Đó là công nghệ thiết kế, chế tạo và sản xuất phần cứng hợp với thời đại; công nghệ phần mềm điều khiển thông minh và sử dụng trí tuệ nhân tạo; công nghệ kết nối và giao tiếp. Cả ba hướng phát triển trên đều phục vụ cho một mục đích duy nhất là biến một chiếc xe từ phương tiện chuyên chở đơn thuần thành một “người bạn” thông minh có khả năng giao tiếp, kết nối với vạn vật xung quanh thông qua việc tích hợp trí thông minh nhân tạo để chiếc xe trở nên thông minh và an toàn hơn, hữu ích hơn với con người.
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là ngành sinh ra muộn, ra đời sau các nước trong khu vực từ 40-50 năm. Sau quãng thời gian không phải ngắn, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cũng đã quy tụ được một số tập đoàn ô-tô lớn trên thế giới như Ford, Mercedes, Toyota… và cũng đã “hình thành” lên 18 doanh nghiệp (DN) FDI và 38 DN trong nước tham gia sản xuất với năng lực khoảng 460 nghìn xe/năm, bao gồm đầy đủ các chủng loại xe con, xe tải, xe khách… Và ở mức độ nào đó cũng đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu ô-tô trong nước theo mục tiêu đề ra mới chỉ về mặt số lượng. Ngành công nghiệp ô tô cũng đã đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, bình quân khoảng hơn một tỷ USD/năm - chỉ tính riêng các khoản thuế và cũng đã giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 80 nghìn lao động. Bên cạnh đó, cũng cần ghi nhận thời gian qua, ngành công nghiệp này cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc lắp ráp ô tô và sản xuất một số phụ tùng, linh kiện… Đây có lẽ sẽ là “tiền đề quan trọng” cho việc xây dựng và phát triển ngành sản xuất - chế tạo ô tô theo định hướng và quy hoạch trong tương lai.
Tuy nhiên, thực tế để ngành công nghiệp ô tô phát triển theo những kế hoạch đã định quả thật cũng không phải đễ thực hiện trong một sớm một chiều. Hiện chúng ta vẫn đang loay hoay trong quy hoạch, định hướng và phát triển. Ngành công nghiệp ô tô cũng khẳng định sớm việc tỷ lệ nội địa hóa, nhưng thực sự ngành sản xuất này vẫn chưa đạt được tiêu chí đề ra. Tỷ lệ nội địa hóa vẫn thấp so với mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 đối với loại xe thông dụng như xe tải, xe khách, xe con.
Một điều đáng ghi nhận từ sự cố gắng của Công ty CP ô tô Trường Hải (Thaco) khi vượt khó cùng với quyết tâm để có một sản phẩm mang thương hiệu Made in Vietnam thì cũng mới đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân từ 15 đến 18% đối với xe con và khoảng 33% đối với xe tải nhẹ. 4 Thực tế ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành công nghiệp ô tô đã hình thành, nhưng còn yếu kém. Mục tiêu Quy hoạch đặt ra tỷ lệ sản xuất trong nước đối với động cơ và hộp số là 50- 90% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay vẫn chưa sản xuất được, mặc dù số lượng DN tham gia ngành công nghiệp phụ trợ này đến nay khoảng 210 DN. Nhưng những DN này chủ yếu thuộc loại vừa và nhỏ và chỉ sản xuất được một số ít chủng loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa…, một số DN đầu tư dây chuyền dập thân, vỏ xe.
Ngoài ra, chúng ta vẫn chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hoá giữa các DN trong việc sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện. Và cũng chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn. Kế hoạch cho giai đoạn tới Quan điểm phát triển nhanh ngành công nghiệp ô tô đã được đề ra từ cấp cao với một số mục tiêu quan trọng như tỷ lệ nội địa hoá, thị trường tiêu thụ có lẽ vẫn còn mang tính chủ quan và kỳ vọng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn chưa lường hết khó khăn về phát triển hạ tầng giao thông, tính phức tạp và sự thất thường của thị trường ô-tô Việt Nam.
Bên cạnh đó, ngay cả cơ quan quản lý và DN đều chưa nhận thức hết tầm quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ, vì vậy, hành lang pháp lý và cơ chế chính sách phát triển ngành công nghiệp này nói chung và cho ngành công nghiệp ô tô nói riêng ban hành chậm. Tuy rằng, chúng ta đã có ưu đãi một số chính sách, nhưng tính thực thi của chính sách hạn chế, đặc biệt là tín dụng, vì việc tiếp cận và vay vốn ưu đãi khó khăn, phức tạp. Chính vì thế các DN chủ yếu quan tâm đến việc lắp ráp ô tô, đây là tư tưởng ăn xổi. Ngoài ra, cũng cần phải nhìn nhận là thị trường ô tô nội địa thực tế quá nhỏ bé, sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước chỉ ở mức độ từ 100 đến 120 nghìn xe/năm với hàng trăm mẫu mã, chủng loại xe, vì vậy việc đầu tư hoặc kêu 5 gọi đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô-tô là không hấp dẫn do khó mang lại hiệu quả.
Ngay cả việc xuất khẩu phụ tùng sang các nước trong khu vực, các DN đầu tư tại Việt Nam cũng ít có lợi thế cạnh tranh vì trong nước chưa sản xuất được phần lớn các loại nguyên, vật liệu chủ yếu. Ngoài ra, là quốc gia đi sau trong khu vực sau các nước như Thái-lan, Indonesia, Malaisia, nên các Tập đoàn ô tô lớn khi đầu tư dự án tại Việt Nam đều đã có mạng lưới cung ứng phụ tùng, linh kiện trong hệ thống, vì vậy, các DN Việt Nam khó tham gia vào chuỗi cung ứng phụ tùng, linh kiện toàn cầu của họ. Theo các nhà quản lý, hiện hạ tầng giao thông của Việt Nam còn yếu kém, chưa tạo điều kiện kích cầu cho ngành công nghiệp ô tô. Trong khi đó, cơ chế chính sách thuế, phí không ổn định, dàn trải, chưa thực sự tạo thành công cụ hữu hiệu để kích thích sự phát triển của ngành này.
Như vậy chính sách thuế, phí cao đối với ngành công nghiệp ô tô trong thời gian qua đã đẩy giá bán xe lên cao làm hạn chế sức mua và bảo hộ cho cho các DN sản xuất.