CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỊA CHẤT KHU MỎ 1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 1.1 Vị trí địa lý khu mỏ Mỏ Khe Tam thuộc xã Dương Huy, thµnh phè Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thµnh phè Cẩm Phả khoảng 8 km về phía Tây Bắc. Mỏ than nằm bên trái đường quốc lộ 18A từ Hạ Long đi Móng Cái. - Ranh giới toạ độ lập báo cáo: + Theo hệ toạ độ VN-2000, kinh tuyến trục 1050, múi chiếu 60: X: 23 26059.28 + Theo hệ toạ độ HN 1972, kinh tuyến trục 1080: X = 27.700 Mỏ than Khe Tam - Công ty than Dương Huy - TKV được giới hạn bởi các mốc toạ độ như sau: Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ Bảng 1. Mốc tọa độ mỏ Tọa độ mốc mỏ STT Kí hiệu X Y 1 KT.16 28 150 421 740 - Ranh giới địa chất + Phía Bắc là đứt gẫy Bắc Huy.
+ Phía Nam là đứt gẫy A-A. + Phía Tây là tuyến thăm dò T. + Phía Đông là tuyến thăm dò T. Diện tích toàn khu mỏ là 8.
Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ 1.2 Địa hình, sông suối, khí hậu và xã hội khu mỏ.1 Địa hình Mỏ than Khe Tam là những đồi núi nối tiếp nhau, ngăn cách phía Nam là dãy núi Khe Sim có độ cao nhất +344m. Phần trung tâm và Đông Bắc là hệ thống núi chạy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đỉnh cao nhất là Bao Gia (+306. Độ cao giảm dần từ Nam lên Bắc, thoải dần tới thung lũng Dương Huy, phía Tây khu mỏ và tiếp cận tới vùng đất trũng Ngã Hai. Độ cao thấp nhất là khu vực Tây Bắc Lép Mỹ +25m, độ cao trung bình địa hình từ +150m đến +250m.2 Hệ thống sông suối Giữa các dãy núi phía Nam và trung tâm là thung lũng Khe Tam.
Dọc theo các thung lũng là các hệ thống suối lớn, các suối này bắt nguồn từ miền đồi Khe Sim chảy về trung tâm (theo hướng Đông) rồi chảy ra suối Khe Chàm (theo hướng Tây) chảy ra suối Lép Mỹ. Ngoài ra còn một số hệ thống suối phía Đông Bắc, Tây Bắc, xuất phát từ sườn núi Bao Gia và Đông Bắc, chảy về vùng Dương Huy. Những hệ thống suối này có nước chảy thường xuyên, vào mùa mưa thường gây ra ngập lụt ở một số nơi.3 Khí hậu Khu mỏ thuộc vùng nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10, mưa nhiều nhất vào tháng 8, tháng 9.
Lượng mưa cao nhất trong ngày lên tới 268 mm/ngđ (Ngày 14/6/1974), lượng mưa trung bình 144mm/ngđ. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau. Nhiệt độ cũng thay đổi theo mùa, mùa hè nhiệt độ lên đến 37 0C - 380C (tháng 7, 8 hàng năm), mùa Đông nhiệt độ hạ xuống thấp từ 8 0C đến 150C, đôi khi xuống 20C đến 30C. Độ ẩm trung bình về mùa khô từ 65% - 80%.
Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ 1.3 Kinh tế, giao thông 1.1 Kinh tế Trong vùng hiện nay dân cư chủ yếu là cán bộ công nhân viên của các công ty và xí nghiệp khai thác than. Ngoài ra còn có người Sán Riu, Sán Chỉ. Sống lâu đời bằng sản xuất nông, lâm nghiệp.2 Giao thông Mạng lưới giao thông trong vùng khá phát triển, có đường bê tông từ ngoài Cẩm Phả đi qua Khe Tam đến Khe Chàm, Cao Sơn, Cọc Sáu….Cơ sở hạ tầng và điều kiện giao thông thuận tiện, đáp ứng tốt cho công tác thăm dò và khai thác mỏ.2 Cấu trúc địa chất khu mỏ Mỏ Khe Tam là một phần của trầm tích chứa than vùng Cẩm Phả. Do vậy về đặc điểm cấu trúc địa chất đều mang những nét chung, tương đồng của vùng Cẩm Phả.
Kết quả nghiên cứu địa tầng của các tài liệu trước đây đã xác định địa tầng trầm tích khu mỏ Khe Tam gồm các trầm tích của giới Mezozoi và Cenozoi, đặc điểm địa tầng khu mỏ Khe Tam đã được nghiên cứu khá chi tiết và đã được trình bày trong các báo cáo địa chất của các giai đoạn trước. Trong báo cáo này, xin được hệ thống lại như sau.1 Địa tầng Địa tầng mỏ than Dương Huy gồm đất đá thuộc hệ Triat, thống thượng, bậc Nori (T3n) và các trầm tích đất phủ Đệ tứ (Q), chiều dày địa tầng khoảng 1400m, gồm các lớp đất đá, các vỉa than nằm xen kẽ nhau. Căn cứ vào mức độ ổn định, đặc điểm các vỉa than, chia địa tầng khoáng sàng Dương Huy thành các tập vỉa, từ dưới lên trên như sau: Tập vỉa 1 (T3n-rhg12): Bao gồm các vỉa than từ trụ vỉa 2 a trở xuống, vỉa than có chiều dày, chất lượng, diện phân bố không liên tục, không ổn định. Khoảng cách giữa các vỉa thay đổi từ 30 50m.
Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ Tập vỉa thứ 2 (T3n-rhg22): Từ trụ vỉa 8 vỉa 2a, các vỉa than này có giá trị công nghiệp với chiều dày, chất lượng, diện phân bố khá ổn định. Khoảng cách các vỉa thay đổi từ 58 100m. Tập vỉa thứ 3 (T3n-rhg32): Từ vỉa 14 vỉa 8, các vỉa than trong tập này ổn định nhất so với các tập vỉa khác. Chiều dày trung bình của các vỉa than thay đổi trong phạm vi không lớn, từ 1.
Tập vỉa thứ 3, chứa các vỉa than có triển vọng trữ lượng lớn nhất. Tập vỉa thứ 4 (T3n-rhg42): Từ vỉa 14 vỉa17, các vỉa than có chiều dày, cấu tạo và chất lượng thay đổi bất thường. Khoảng cách địa tầng giữa các vỉa than thay đổi trong phạm vi lớn từ 30 130m.2 Kiến tạo địa chất Khai trường mỏ than Khe Tam nằm trong cấu tạo nếp lõm lớn Dương Huy, thuộc khối Trung tâm Cẩm Phả, được giới hạn bởi hai đứt gẫy lớn có phương vĩ tuyến là đứt gẫy A - A’ ở phía Nam và đứt gãy Bắc Huy ở phía Bắc. Hướng phát triển chính của cấu tạo theo phương Đông - Tây.
Dọc theo trục nếp uốn phát triển nhiều đứt gẫy, phân cắt cấu tạo thành nhiều khối nhỏ. Hệ thống đứt gãy ở mỏ Khe Tam ảnh hưởng nhiều đến công tác khai thông chuẩn bị và khai thác của mỏ. Các đứt gãy chính có ảnh hưởng tới công tác khai thác đã được phát hiện trong các giai đoạn thăm dò và được kiểm chứng trong quá trình khai thác gồm: Đứt gãy thuận B - B: Nằm ở Trung tâm khu mỏ, phạm vi giữa đứt gãy Bắc Huy và F4. Phương đứt gãy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là ranh giới giữa hai phân khu Đông Bắc và Trung tâm.
Mặt trượt cắm về phía Tây nam, với góc dốc = 80 850, biên độ dịch chuyển theo mặt trượt là 200 250m, đới huỷ hoại rộng 15 20m và gây ảnh hưởng tương đối lớn ở hai cánh, các vỉa than bị thay đổi nhiều về thế nằm và chất lượng. Đứt gãy thuận C - C: Xuất hiện ở phân khu Bao Gia, trong phạm vi từ đứt gãy F4 đến đứt gãy Bắc Huy, phát triển theo phương Bắc - Nam. Đứt gãy này cắm Tây Nam, độ dốc 700 750, biên độ dịch chuyển từ 30 50m. Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ Đứt gãy nghịch F2: Xuất hiện ở khu Đông Bắc giữa đứt gẫy Bắc Huy và F B, phát triển theo phương vĩ tuyến, chếch về Đông Bắc, hướng cắm về Nam, góc dốc mặt trượt 750 800, biên độ dịch chuyển từ 100m 150m, đới huỷ hoại rộng 15m 20m.
Đứt gãy thuận F3: Xuất hiện ở phân khu Đông Bắc, có vị trí nằm ở phía Nam và song song với đứt gãy F2. Hướng cắm Nam với góc dốc = 75 800. Biên độ dịch chuyển theo mặt trượt là 150 180m, đới huỷ hoại rộng 15 20m. Đứt gãy thuận F4: Vị trí nằm ở Trung tâm khu mỏ, là ranh giới gữa khu Trung tâm và khu Nam.
Phương đứt gãy theo phương vĩ tuyến, phát triển liên tục trong khu mỏ, mặt trượt nghiêng về phía Nam, với góc dốc = 70 750. Đới huỷ hoại rộng từ 15 20m. Biên độ dịch chuyển theo mặt trượt từ 70 100m.4 Đặc điểm địa chất thủy văn, địa chất công trình 1.1 Đặc điểm địa chất thủy văn 1.1 Đặc điểm khí tượng thủy văn Khu mỏ than Khe Tam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có lượng mưa chiếm 78,0 97,7%.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường có lượng mưa nhỏ chỉ chiếm từ 2. Tháng có lượng mưa lớn nhất là 1126,1mm vào tháng 8/1995 và cũng là tháng có lượng mưa trong ngày lớn nhất 250mm. Lượng mưa hàng năm thay đổi từ 1280,10mm (năm 1991) đến 2817,80mm (năm 1994) điều này ảnh hưởng lớn đến điều kiện ĐCTV - ĐCCT cũng như quá trình khai thác của khu mỏ.2 Đặc điểm nước trên mặt Địa hình khu mỏ Khe Tam cao ở phần phía Nam và thấp dần về phía nam trung tâm sau đó lại cao dần về Tây Bắc và Đông Bắc. Cao nhất là đỉnh Bao Gia 302,37m, Thấp nhất là khu vực suối Léc Mỹ ở phía Tây Nam 25,7m và khu mặt bằng phía Bắc 20,67m.
Vũ Trọng Hiến- XDCT ngầm và mỏ A-k55 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng CTN và Mỏ Do địa hình khu mỏ bị chia cắt mạnh tạo nên mạng sông suối dày đặc. Song đáng kể nhất là hệ thống suối phía Đông Bắc, phía Tây Nam và phía Đông Nam khu mỏ. Kết quả quan trắc lâu dài tại trạm số 9 (sơ bộ) suối lớn Khe Tam cho thấy lưu lượng nhỏ nhất 0.692 l/s (tháng 1 và 2 năm 1994), lưu lượng nước lớn nhất khi đo tại trạm bằng ván là 405.13 l/s (6/1965) vào mùa mưa lưu lượng lớn phải đo bằng phao lưu lượng lên tới 927l/s. Hệ số biến đổi lưu lượng theo tháng quan trắc lơn nhất là 128 (năm 1965) nhỏ nhất là 9.
Hệ số biến đổi lưu lượng trong năm quan trắc lớn nhất là 315 (1965) nhỏ nhất là 192 (1964).