CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TP HẠ LONG 1. Vài nét đặc trưng của thành phố Hạ Long [11] Thành phố Hạ Long là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh. Thành phố Hạ Long được thành lập theo Nghị định số 102/NĐ-CP ngày 27/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ, Thành phố được thành lập trên cơ sở thị xã Hòn Gai. Phía Đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, Tây giáp thị xã Quảng Yên, Bắc giáp huyện Hoành Bồ, Nam là vịnh Hạ Long với bờ biển dài trên 20 km.
Thành phố Hạ Long nằm hai bên Cửa Lục, phía đông Hạ Long là khu vực phát triển công nghiệp và tập trung hầu hết các cơ quan quản lý của tỉnh. Khu vực phía Tây thành phố Hạ Long (Bãi Cháy) là khu du lịch hoạt động sôi động. Dân cư sống ở thành phố Hạ Long chủ yếu là dân tộc Việt (Kinh), hầu hết là người từ các vùng khác đến lập cư ở đây. Vịnh Hạ Long nổi tiếng ở trong và ngoài nước và được công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với hàng nghìn hòn đảo được làm nên bởi tạo hoá kỳ vĩ và sống động.
Hạ Long còn có những đền, miếu, di tích lịch sử văn hoá (núi Bài Thơ, đền Đức Ông, chùa Long Tiên.) làm cho phong cảnh hữu tình, nên thơ bởi cảnh quan thiên nhiên lại càng thêm hấp dẫn bởi bàn tay con người.Kinh kế của thành phố ngoài hoạt động du lịch là sôi động nhất, còn có các hoạt động kinh tế khác như: thương mại, cảng biển, công nghiệp than, khai thác và chế biến hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất bia. Thành phố Hạ Long có 20 phường, cụ thể các phường là: Tuần Châu, Đại Yên, Việt Hưng, Hùng Thắng, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Bãi Cháy, Hà Khách, Cao Xanh, Yết Kiêu, Hồng Gai, Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Cao Thắng, Hồng Hải, Hồng Hà, Hà Tu, Hà Phong, Hà Trung, Hà Lầm.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình [11] a. Vị trí địa lý 13 Thành phố Hạ Long được thành lập ngày 27/12/1993 theo Nghị định số 102/NĐ - CP của Thủ tướng Chính phủ. Thành phố Hạ Long được mở rộng, sát nhập 2 xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện Hoành Bồ theo Nghị định số 51/2001/ NĐ-CP ngày 16/08/2001 của Chính phủ.
Như vậy thành phố Hạ Long có toạ độ địa lý: Từ 20055’ đến 21005’ vĩ độ bắc. Từ 106050’ đến 107030’ kinh độ đông. Phía Bắc - Tây bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía Nam thông ra biển giáp vịnh Hạ Long và thành phố Hải Phòng, phía Đông - Đông Bắc giáp thị xã Cẩm Phả, Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Yên Hưng. Tổng diện tích tự nhiên của thành phố Hạ Long là 27.
Có quốc lộ 18A chạy qua, có cảng biển, có bờ biển dài 50 km, có vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, với diện tích 434 km2. Vị trí địa lý của thành phố Hạ Long có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội. Với những lợi thế về đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và cảng biển, đặc biệt cảng than Nam Cầu Trắng và cảng nước sâu Cái Lân cho phép thành phố giao lưu quan hệ quốc tế với nhiều nước trên thế giới và các huyện, tỉnh, thành phố trong cả nước. Đặc điểm địa hình - Hạ Long là thành phố ven biển vịnh Bắc Bộ, có địa hình đa dạng và phức tạp, gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt bao gồm: vùng đồi núi, vùng ven biển và vùng hải đảo.2 Điều kiện thủy văn [5] a.
Hệ thống sông chính: Các sông chính chảy qua địa phận thành phố gồm có sông Diễn Vọng, sông Vũ Oai, sông Man, sông Trới đổ vào vịnh Cửa Lục và sông Míp đổ vào hồ Yên Lập. Ngoài ra còn có các dòng suối nhỏ và ngắn chảy dọc sườn núi phía Nam từ Hồng Gai ra Hà Tu, Hà Phong. Sông, suối chảy trên địa phận Hạ Long nhỏ và ngắn, 14 lưu lượng nước không nhiều và phân bố không đều trong năm, do địa hình dốc nên mực nước dâng lên nhanh và thoát cũng nhanh. Chế độ thuỷ triều: Vùng biển Hạ Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là 3,6 m.3 Đặc điểm địa chất Cấu trúc địa chất khu vực thành phố Hạ Long gồm các thành tạo và trầm tích biến chất tuổi từ Paleozoi đến Kailozoi.
Địa tầng trầm tích tại đây thể hiện ở các đặc điểm về thành phần khoáng vật, kiến trúc đất đá, màu sắc, cấu tạo các lớp đất đá, hoá thạch đang được bảo tồn và quan hệ không gian của các hệ địa tầng. Nhìn chung kết cấu địa chất của thành phố Hạ Long rất vững chắc rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình.4 Khí hậu Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, một năm có 2 mùa, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10. Là vùng ven biển với hệ thống đảo và đồi núi nên khí hậu của Hạ Long bị chi phối mạnh mẽ của biển[5]. Nhiệt độ không khí.
Nhiệt độ trung bình năm 23,70C dao động từ 16,70C - 28,60C. Nhiệt độ trung bình cao nhất 34,90C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 380C, mùa đông nhiệt độ trung bình thấp nhất 13,70C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 50C. Lượng mưa trung bình năm là 1832 mm, phân bố không đều trong năm và chia thành 2 mùa. - Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm từ 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm, cao nhất là tháng 7 và tháng 8 đạt 350 mm.
- Mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ đạt từ 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 từ 4 - 40 mm. Độ ẩm không khí. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới 90% và thấp nhất là 68%.
Chế độ gió – bão: Do đặc điểm vị trí địa lý, ở Hạ Long có 2 loại gió: Gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam. Tốc độ gió trung bình năm 2,8 m/s, hướng gió mạnh nhất là Tây Nam 45 m/s. Là vùng biển kín, Hạ Long ít chịu ảnh hưởng của các cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất là cấp 9. Tuy nhiên những trận mưa bão lớn thường gây ra thiệt hại, đặc biệt là các khu vực ven biển.
Sương muối, sương mù: Mùa đông thường có sương mù dày đặc, sương muối thường xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, tập trung nhiều ở những vùng đồi núi.2 Điều kiện xã hội 1.1 Dân số và phân bố dân cư a. Dân số - Dân số thành phố năm 2006 là 202.839 người đến năm 2010 là 234.753 người so với năm 2006, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2006 là 1,005% đến năm 2010 là 1,102%, và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cả giai đoạn 2006-2010 trung bình là 1,051%[11].1 Kết quả điều tra dân số ở các phường giai đoạn 2006-2010[11] Đơn vị tính: người Năm Năm Năm Năm Năm STT Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010 Thành phố 202839 218238 223474 229122 234592 1 Hồng Gai 8590 9286 8995 9215 9385 2 Bạch Đằng 11840 12519 11996 12829 12447 3 Trần Hưng Đạo 9750 10266 9962 10188 10820 4 Yết Kiêu 8452 9553 9233 9785 9995 16 5 Cao Xanh 14875 15839 16521 17038 17424 6 Hà Khánh 5743 6524 6090 6217 6487 7 Cao Thắng 15448 16650 17147 17378 18230 8 Hà Lầm 9179 9797 10093 10125 10336 9 Hà Trung 7146 7570 8019 8034 7745 10 Hà Tu 11618 11991 12174 12197 12575 11 Hà Phong 8705 9427 9772 9804 9824 12 Hồng Hà 12714 15140 15668 15569 15602 13 Hồng Hải 15439 16584 18005 18440 18323 14 Bãi Cháy 18361 18619 18981 19472 19890 15 Giếng Đáy 10671 12003 13317 14071 15423 16 Hà Khẩu 10016 10769 11369 11845 12547 17 Hùng Thắng 4168 5582 5643 5717 5866 18 Tuần Châu 2387 2573 2256 2355 2394 19 Đại Yên 8253 8443 8526 8678 9036 20 Việt Hưng 9484 9103 9707 10165 10243 - Mật độ dân cư trên toàn thành phố năm 2006 là 820 người/km2, đến năm 2010 mật độ dân cư tăng lên 834 người/km2. - Số lao động năm 2010 được giải quyết việc làm năm 2006 là 51.967 người đến năm 2010 số lao động được giải quyết việc làm ước đạt 50.500 người trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%. - Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2.2 Tình hình phát triển kinh tế [11] - Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm (2006-2010) luôn duy trì ở mức cao và ổn định, tổng sản phẩm (GDP) năm 2010 ước đạt 11.968 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 2,06 lần so với năm 2005, bình quân 5 năm (2006-2010) tăng 15,55%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 2.680 USD, bằng 1,61 lần năm 2005.
17 - Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp - du lịch và dịch vụ - nông nghiệp. Năm 2006: Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng : 54,7%, ngành dịch vụ và du lịch: 44,0%, ngành nông lâm ngư nghiệp: 1,3%. Đến năm 2010, tỷ trọng trong cơ cấu nền kinh tế tương ứng là công nghiệp và xây dựng chiếm 54,8%, dịch vụ chiếm 44,2% và nông - lâm - thủy sản chiếm 1%.3 Định hướng quy hoạch thành phố Hạ Long Theo báo cáo quy hoạch tổng thể thành phố Hạ Long đến năm 2020 và báo cáo điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hạ Long đến năm 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phê duyệt theo Quyết định số 619/QĐ-UBND ngày 05 tháng 3 năm 2010, định hướng quy hoạch thành phố như sau: 1.1 Định hướng phát triển không gian đô thị [10] + Hướng Tây: Phát triển về hướng Đại Yên, là vùng đát bờ biển kết hợp với đồi núi, phát triển các khu đô thị mới và khu du lịch sinh thái. + Hướng Nam: Chủ yếu dành cho du lịch và nghỉ dưỡng kết hợp với bảo tồn vùng vịnh Hạ Long, đặc biệt kà khu bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới; hạn chế việc lấn biển để xây dựng.
+ Hướng Bắc: Chủ yếu dành cho Công nghiệp và khu dân cư; có phát triểnvề phía đồi kết hợp với việc trồng và bảo vệ rừng; + Hướng Đông: Chủ yếu là không gian cây xanh có chức năng cách ly và bảovệ môi trường giữa các khu đô thị với các khu mỏ và nhà máy sàng tuyển Nam Cầu Trắng.2 Phân khu chức năng Tổ chức không gian đô thị thành phố Hạ Long được chia thành các khu chức năng như sau [10]: a.