Thiết kế và xây dựng hệ thống điều khiển, giám sát mạch nạp acquy tự động với vi điều khiển AVR

Khóa luận tốt nghiệp thiết kế hệ thống điều khiển và giám sát mạch nạp acquy tự động sử dụng vi điều khiển AVR, tập trung phân tích và thiết kế phần mềm hiệu quả.

Chuyên ngành

Điện Công nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp đại học

2016

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hệ thống điều khiển và giám sát mạch nạp acquy tự động

Hệ thống điều khiểngiám sát mạch nạp acquy tự động sử dụng vi điều khiển AVR là một giải pháp công nghệ hiện đại, giúp tự động hóa quá trình nạp acquy. Hệ thống này đảm bảo quá trình nạp diễn ra an toàn, hiệu quả, đồng thời giám sát các thông số như điện áp, dòng điện để tối ưu hóa hiệu suất và tuổi thọ của acquy. Thiết kế hệ thống này tập trung vào việc tích hợp phần cứng và phần mềm, sử dụng AVR microcontroller để điều khiển và giám sát tự động.

1.1. Thiết kế hệ thống điều khiển

Thiết kế hệ thống điều khiển bao gồm việc lựa chọn và tích hợp các thành phần phần cứng như mạch nạp acquy, cảm biến, và vi điều khiển AVR. Hệ thống được thiết kế để tự động điều chỉnh dòng điện và điện áp nạp, đảm bảo acquy được nạp đúng cách. Điều khiển tự động giúp giảm thiểu sự can thiệp của con người, tăng độ chính xác và hiệu quả của quá trình nạp.

1.2. Giám sát tự động mạch nạp

Giám sát tự động là một phần quan trọng của hệ thống, giúp theo dõi các thông số như điện áp, dòng điện, và nhiệt độ trong quá trình nạp. Hệ thống giám sát sử dụng các cảm biến và AVR microcontroller để thu thập dữ liệu và đưa ra cảnh báo khi có sự cố. Điều này đảm bảo an toàn và kéo dài tuổi thọ của acquy.

II. Vi điều khiển AVR trong hệ thống nạp acquy tự động

Vi điều khiển AVR đóng vai trò trung tâm trong hệ thống điều khiển và giám sát mạch nạp acquy tự động. AVR được sử dụng để xử lý dữ liệu từ các cảm biến, điều khiển các thiết bị ngoại vi, và thực hiện các thuật toán điều khiển tự động. Hệ thống AVR giúp tăng độ chính xác và tốc độ xử lý, đồng thời giảm thiểu sai sót trong quá trình nạp acquy.

2.1. Phần cứng hệ thống AVR

Phần cứng hệ thống bao gồm AVR microcontroller, các cảm biến, và mạch công suất. Mạch điều khiển được thiết kế để tương thích với các loại acquy khác nhau, đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả. AVR microcontroller được lập trình để điều khiển các quá trình nạp và giám sát, đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định.

2.2. Phần mềm hệ thống AVR

Phần mềm hệ thống được phát triển để điều khiển và giám sát quá trình nạp acquy. Phần mềm này bao gồm các thuật toán điều khiển tự động, giúp tối ưu hóa quá trình nạp và đảm bảo an toàn. Phần mềm mạch điều khiểnphần mềm giám sát được tích hợp chặt chẽ, tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh và hiệu quả.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn của hệ thống

Hệ thống điều khiển và giám sát mạch nạp acquy tự động có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong các ứng dụng công nghiệp và dân dụng. Hệ thống giúp tự động hóa quá trình nạp acquy, giảm thiểu sự can thiệp của con người, và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng. Tự động hóa quá trình nạp cũng giúp kéo dài tuổi thọ của acquy, giảm chi phí bảo trì và thay thế.

3.1. Ứng dụng trong công nghiệp

Trong công nghiệp, hệ thống nạp acquy tự động được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống nguồn dự phòng, xe điện, và các thiết bị di động. Hệ thống tự động giúp đảm bảo nguồn điện liên tục, tăng hiệu suất sản xuất, và giảm thiểu thời gian ngừng hoạt động do sự cố acquy.

3.2. Ứng dụng trong dân dụng

Trong dân dụng, hệ thống nạp acquy tự động được sử dụng trong các thiết bị như xe máy, ô tô, và hệ thống năng lượng mặt trời. Giám sát tự động giúp người dùng dễ dàng theo dõi tình trạng acquy, đảm bảo an toàn và hiệu quả sử dụng. Hệ thống này cũng giúp tiết kiệm chi phí và tăng tuổi thọ của acquy.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1.Giới thiệu về công nghệ nạp Ắc quy Chương 2. Tính toán thiết kế mạch công suất Chương 3: Xây dựng và thiết kế bộ điều khiển 1 CHƢƠNG 1.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ NẠP ẮC QUY 1. CẤU TRÖC CỦA MỘT BÌNH ẮC QUY Ắc quy là nguồn điện hoá, sức điện động của ắc quy phụ thuộc vào vật liệu cấu tạo bản cực và chất điện phân. Với ắc quy chì axít sức điện động của một ắc quy đơn là 2,1V.

Muốn tăng khả năng dự trữ năng lượng của ắc quy người ta phải tăng số lượng các cặp bản cực dương và âm trong mỗi ắc quy đơn. Để tăng giá trị sức điện động của nguồn người ta ghép nối nhiều ắc quy đơn thành một bình ắc quy. Bình ắc quy được làm từ số những tế bào (cell) đặt trong một vỏ bọc bằng cao su cứng hay nhựa cứng. Những đơn vị cơ bản của mỗi tế bào là những bản cực dương và bản cực âm.

Những bản cực này có những vật liệu hoạt hoá nằm trong các tấm lưới phẳng. Bản cực âm là chì xốp sau khi nạp có mầu xám. Bản cực dương sau khi nạp là PbO2 có màu nâu. Cấu trúc của một ắc quy đơn gồm có: phân khối bản cực dương, phân khối bản cực âm, các tấm ngăn.

Phân khối bản cực do các bản cực cùng tên ghép lại với nhau. Cấu tạo của một bản cực trong ắc quy gồm có phần khung xương và chất tác dụng trát lên nó. Khung xương của bản cực dương và âm có cấu tạo giống nhau. Chúng được đúc từ chì có pha thêm (5 ÷ 8% ) Sb và tạo hình dạng mặt lưới.

Phụ gia Sb thêm vào chì sẽ làm tăng thêm độ dẫn điện và cải thiện tính đúc. Trong thành phần của chất tác dụng còn có thêm khoảng 3% chất nở (các muối hữu cơ) để tăng độ xốp, độ bền của lớp chất tác dụng. Nhờ tăng độ xốp, dung dịch điện phân dễ thấm sâu vào trong lòng bản cực, đồng thời diện tích thực tế tham gia phản ứng hoá học của các bản cực cũng được tăng thêm. Phần đầu mỗi bản cực có vấu, các bản cực dương của mỗi ắc quy đơn được hàn với nhau tạo thành phân khối bản cực dương.

Các bản cực âm hànvới nhau tạo thành phân khối bản cực âm. Số lượng các cặp bản cực trong mỗi ắc quy đơn thường từ 5 đến 8 cặp. Bề dầy tấm bản cực dương của các ắc quy trước đây thường khoảng 2mm. Ngày nay với các công nghệ tiên tiến đã giảm xuống còn ( 1,3 ÷ 1,5 ) mm.

Bản cực âm thường mỏng hơn ( 0,2 ÷ 0,3 ) mm. Số bản cực âm trong ắc quy đơn nhiều hơn số bản cực dương một bản nhằm tận dụng 2 triệt để diện tích tham gia phản ứng của các bản cực dương, do đó bản cực âm nằm ra bên ngoài nhóm bản cực. Tấm ngăn được bố trí giữa bản cực âm và bản cực dương là một tấm ngăn xốp có tác dụng ngăn cách và tránh va đập giữa các bản cực. Những tấm ngăn xốp cho phép dung dịch chất điện phân đi quanh các bản cực vì trên bề mặt của nó có lỗ.

Tấm ngăn làm bằng vật liệu pôliclovinyl có bề dầy ( 0,8 ÷ 1,2 ) mm và có dạng lượn sóng. Một bộ những sắp xếp như vậy gọi là một phần tử. Sau khi đã sắp xếp một bộ phận như trên, nó được đặt vào một ngăn trong vỏ bình ắc quy. Ở bình ắc quy có nắp đậy mềm, các nắp đậy tế bào được đặt lên sau đó những phiến nối được hàn vào để nối các cực liên tiếp của tế bào.

Trong cách nối này các tế bào được nối liên tiếp. Cuối cùng nắp đậy bình ắc quy được hàn vào. Bình ắc quy có nắp đậy cứng , có một nắp đậy chung làm giảm được sự ăn mòn trên vỏ bình. Những bình ắc quy này có bản nối cực đi xuyên qua tấm ngăn cách từng tế bào.

Tấm ngăn cách không cho dung dịch điện phân qua lại các tế bào. Điều này làm bình ắc quy vận hành tốt hơn vì bàn nối ngắn và được đậy kín. Đầu nối chính của ắc quy là cọc dương và cọc âm. Cọc dương lớn hơn cọc âm để tránh nhầm điện cực.

Người ta thường nối dây mầu đỏ với cực dương và dây màu đen với cực âm. Dây cực âm được nối với lốc máy hay bộ phận kim loại. Dây cực dương được nối với bộ phận khởi động. Nắp thông hơi được đặt trên nắp mỗi tế bào.

Những nắp này có hai mục đích: Để đậy kín tế bào ắc quy, khi cần kiểm tra nước hay cho thêm nước thì ta sẽ mở nắp đậy này. Khi nạp bình người ta cũng mở nắp đậy để chất khí hình thành có lối thoát ra. Mỗi tế bào ắc quy có điện thế khoảng 2 vôn. Ắc quy 6V có 3 tế bào mắc nối tiếp.

Ắc quy 12V có 6 tế bào mắc nối tiếp. Muốn có điện thế cao hơn người ta mắcnối tiếp các bình ắc quy với nhau. Hai ắc quy 12V mắc nối tiếp sẽ tạo ra một hệ thống 24V. Nồng độ dung dịch điện phân H2SO4 là γ = 1,1÷ 1,3 g/cm3.

Nồng độ dung dịch điện phân có ảnh hưởng lớn đến sức điện động của ắc quy. Cấu trúc bình ắc quy Hình 1. Bình ắc quy trong thực tế 1. QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI NĂNG LƢỢNG Bình ắc quy là bình chứa năng lượng cho hệ thống điện.

Khi cần bình ắc quy sẽ tạo ra dòng điện một chiều đi qua các thiết bị nối với các cực của nó. Dòng điện trong bình ắcquy tạo ra do phản ứng hoá học hoặc giữa những vật liệu trên bản cực và axit H2SO4 trong bình hay còn gọi là chất điện giải. Sau một thời gian sử dụng bình ắc quy bị hết điện. Tuy nhiên nó có thể được nạp lại bằng cách cho một dòng điện bên ngoài đi qua nó theo chiều ngược với chiều phát điện của bình.

4 Trong điều kiện bình thường ắc quy được nạp do dòng điện từ máyphát điện. Để hoạt động tốt bình phải làm ba việc: Cung cấp dòng điện khởi động động cơ. Cung cấp điện khi hệ thống cần có mức điện lớn hơn hệ thống sạc có thể cung cấp. Ổn định điện thế trong khi máy đang hoạt động.

Ắc quy là nguồn năng lượng có tính thuận nghịch. Nó tích trữ năng lượng dưới dạng hoá năng và giải phóng năng lượng dưới dạng điện năng. Quá trình ắc quy cung cấp điện cho mạch ngoài gọi là quá trình phóng điện. Quá trình ắc quy đuợc dự trữ năng lượng gọi là quá trình nạp điện.

Quá trình biến đổi trên các điện cực Trạng thái ắc quy Bản cực dương Dung dịch điện phân Bản cực âm Nạp đầy PbO2 H2SO4 Pb ↓↑ ↓↑ ↓↑ ↓↑ phóng điện hết PbSO4 H2O PbSO4 Trong quá trình phóng nạp, nồng độ dung dịch điện phân của ắc quy thay đổi. Khi ắc quy phóng điện, nồng độ dung dịch điện phân giảm dần. Khi được nạp điện, nồng độ dung dịch điện phân tăng dần. Do đó ta có thể căn cứ vào nồng độ dung dịch điện phân để đánh giá trạng thái tích điện của ắc quy.

Tỷ trọng chất điện phân của bình ắc quy Loại bình ắc quy Tỷ trọng chất điện phân Bình ắc quy làm việc ở chế độ tải nặng ví dụ các xe 1.275 tải điện công nghiệp lớn. Bình ắc quy dùng cho xe ôtô, phi cơ.260 Bình ắc quy dùng cho tải không nặng lắm: ví dụ chiếu 1.245 sáng tàu điện, khởi động các động cơ. Bình ắc quy tĩnh, hoặc dùng cho các ứng dụng dự 1. PHÂN LOẠI ẮC QUY Cho đến nay có rất nhiều loại ắc quy khác nhau được sản xuất tuỳ thuộc vào những điều kiện yêu cầu cụ thể của từng loại máy móc, dụng cụ, điều kiện làm việc.

Cũng như những tính năng kinh tế kỹ thuật của ắc quy có thể liệt kê một số loại sau: - Ắc quy chì (ắc quy axit) - Ắc quy kiềm - Ắc quy không lamen và ắc quy kiềm - Ắc quy kẽm-bạc Tuy nhiên trên thực tế ắc quy axít và ắc quy kiềm được sử dụng nhiều hơn. So sánh ắc quy kiềm và ắc quy axit Ắc quy axit Ắc quy kiềm - Khả năng quá tải không cao, dòng nạp - Khả năng quá tải rất lớn, dòng điện lớn nhất đạt được khi quá tải là Inmax = áp nạp lớn nhất khi đó có thể đạt tới 20%Q10 50%Q10 - Hiện tượng tự phóng lớn,ắc quy nhanh - Hiện tượng tự phóng nhỏ hết điện ngay cả khi không sử dụng. - Với khả năng trên thì ắc quy kiềm - Sự dụng rộng rãi trong đời sống công thường được sử dụng ở những nơi nghiệp,ở những nơi có nhiệt độ cao va yêu cầu công suất cao và quá tải đập lớn nhưng đòi hỏi công suất và quá thường xuyên. tải vừa phải.

- Dùng trong công nghiệp hàng - Dùng trong xe máy, ôtô, các động cơ không, hàng hải và quốc phòng. máy nổ công suất vừa và nhỏ. - Giá thành cao. - Giá thành thấp.

- Tuổi thọ cao. - Tuổi thọ thấp. Nhưng thông dụng nhất từ trước đến nay vẫn là ắc quy axít. Vì so với ắc quy kiềm nó có một vài tính năng tốt hơn như: sức điện động của mỗi bản ”cặp bản” cực cao hơn, có điện trở trong nhỏ.Vì vậy, trong đồ án này ta chọn loại ắc quy axít để nghiên cứu và thiết kế.

CÁC ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA ẮC QUY 1. Sức điện động của ắc quy Sức điện động của ắc quy chì axit phụ thuộc vào nồng độ dung dịch điện phân: E0 = 0,85 +γ (V) Trong đó: E0 là sức điện động tĩnh của ắc quy đơn, tính bằng V, γ là nồng độ dung dịch điện phân ở nhiệt độ 150oC tính bằng g/cm3. Trong quá trình phóng điện, sức điện động của ắc quy được tính bằng công thức: EP = UP +IP.raq Trong đó: EP : là sức điện động của ắc quy phóng điện, UP : là điện áp đo trên các cực của ắc quy khi phóng điện,IP : là dòng điện phóng, raq : là điện trở trong của ắc quy khi phóng điện. Sức điện động En của ắc quy được tính như sau: En = Un – In.

raq Trong đó: En: sức điện động của ắc quy nạp điện, In: dòng điện nạp, Un: điện áp đo trên các cực của ắc quy khi nạp điện, raq: điện trở trong của ắc quy khi nạp điện. Dung lƣợng phóng của ắc quy Dung lượng phóng của ắc quy là đại lượng đánh giá khả năng cung cấp năng lượng của ắc quy cho phụ tải, được tính theo công thức: CP = IP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thiết kế hệ thống điều khiển và giám sát mạch nạp acquy tự động sử dụng vi điều khiển AVR" tập trung vào việc ứng dụng vi điều khiển AVR để xây dựng một hệ thống nạp acquy tự động, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình sạc. Bài viết cung cấp cái nhìn chi tiết về thiết kế phần cứng, phần mềm, cũng như cách thức hoạt động của hệ thống. Điểm nổi bật là khả năng giám sát thời gian thực, giúp người dùng kiểm soát và tối ưu hóa quá trình nạp, từ đó kéo dài tuổi thọ của acquy. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực điều khiển tự động và ứng dụng vi điều khiển trong thực tế.

Để mở rộng kiến thức về các hệ thống điều khiển tiên tiến, bạn có thể tham khảo bài viết "Thiết kế bộ điều khiển cho quadcopter kết hợp thị giác máy tính bám đối tượng di động", nơi ứng dụng thị giác máy tính được tích hợp vào hệ thống điều khiển. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu hệ thống điều khiển bám cho panel lắp đặt pin năng lượng mặt trời" cũng mang đến góc nhìn thú vị về việc điều khiển tự động trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Cuối cùng, "Thiết kế mô hình thị giác và điều khiển cho robot tự động thu gom bóng bàn" là một ví dụ điển hình về sự kết hợp giữa thị giác máy tính và điều khiển robot. Những bài viết này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các ứng dụng đa dạng của hệ thống điều khiển tự động.