Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản - Chủ đề Theo tác giả Nguyễn Kỳ Loan, “Chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức mà khi tổ chức học sinh tìm hiểu, khám phá sẽ giải quyết được một vấn đề lí luận hay thực tiễn, do đó vừa lĩnh hội được kiến thức khoa học, vừa rèn luyện, hình thành được các năng lực cơ bản như giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, tính toán, sáng tạo, tư duy phê phán, tự học” [11. Theo Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Minh Nguyệt,“Chủ đề là vấn đề mang tính cốt lõi, là phương diện chính mang tính định hướng vận động của đối tượng và mối liên hệ đa chiều của nó với các đối tượng khác trong tự nhiên. Có thể nói, dạy học theo chủ đề có bản chất dạy học tích hợp, đưa nhận thức con người gắn với hiện thực khách quan.
Trong dạy học, chủ đề là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn và khi kết thúc một chủ đề, người học có được kiến thức và kĩ năng giải quyết được các vấn đề thực tiễn liên quan hoặc giải quyết được các vấn đề trong bối cảnh mới” [14. Như vậy, mặc dù có các quan niệm khác nhau về “chủ đề”, nhưng những quan niệm này đều có điểm chung thống nhất là: bản thân chủ đề chứa đựng những tri thức lí luận và thực tiễn mang tính hệ thống, tích hợp, tức là mỗi chủ đề đều tồn tại như một hệ thống logic các đơn vị nội dung. Mỗi đơn vị nội dung đó có thể lại là một chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề). Trong mỗi hệ thống (chủ đề), có một vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm (chủ đề lớn) và những chủ đề có ý nghĩa bộ phận góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ đề chính (chủ đề nhỏ) và mỗi chủ đề có ý nghĩa và giá trị khác nhau [17, p.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Chủ đề trong dạy học Chủ đề trong dạy học là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn mà khi học xong, HS có thể vận dụng kĩ năng, kiến thức đã học được để giải quyết một vấn đề thực tiễn hoặc giải quyết một vấn đề trong bối cảnh mới [11. - Dạy học theo chủ đề Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể cho rằng: Dạy học theo chủ đề là quá trình tổ chức cho HS khám phá vấn đề học tập để lĩnh hội và vận dụng kĩ năng, kiến thức vào giải quyết tình huống nhận thức hay thực tiễn. Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng tổ chức HS tiếp thu những kiến thức rời rạc mà chủ yếu là hướng dẫn họ tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức, kĩ năng ở phạm vi rộng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn. Bởi vậy, nhiều tác giả đã cho rằng bản chất của dạy học theo chủ đề là dạy học tích hợp [7]; [8]; [9]; [11]; [17].
- Môi trường Ngày nay, đã có nhiều định nghĩa về môi trường, đặc biệt sau ngày 5/6/1972, tức là sau ngày kết thúc Hội nghị thế giới về môi trường và con người tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm môi trường đã được các tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Các học giả phương Tây định nghĩa môi trường theo không gian sống, họ coi môi trường là nơi ở và nơi làm việc, không gian và cảnh quan, cung cấp tài nguyên, là nơi diễn ra các hoạt động và là nơi thu nhận các chất thải của hoạt động sống của con người. Các học giả Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về môi trường theo những cách khác nhau phụ thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu: Môi trường thiên nhiên bao gồm những nhân tố vô sinh và hữu sinh tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn người; Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ về mọi mặt giữa con người và con người trong xã hội; Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh và xã hội do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người. Có thể nói môi trường sống của con người bao gồm tất cả các tài nguyên thiên nhiên và những nhân tố thuộc về chất lượng của môi trường đối với sức khỏe và tiện nghi sinh sống của con người. Những nhân tố thuộc về chất lượng của môi trường đó là không khí, nước, âm thanh, ánh sáng, cảnh quan, thẩm mĩ, đạo đức, chính trị, điều kiện sinh sống, làm việc và cư trú, quan hệ chính trị - xã hội tạo địa bàn sinh sống và làm việc của con người [6], [11], [13].
Mặc dù thuật ngữ môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng theo chúng tôi để đi đến một khái niệm về môi trường dễ được thừa nhận và dễ hiểu thì trong đó phải kể tới các yếu tố cấu thành môi trường, sự tác động của các yếu tố đó: các yếu tố đó bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố nhân tạo, chúng tồn tại xung quanh con người và có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người và tự nhiên. - Môi trường sống Môi trường sống bao gồm tất cả các nhân tố xung quanh sinh vật, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sinh vật; làm ảnh hưởng đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những hoạt động khác của sinh vật Theo nghĩa rộng, môi trường sống là tất cả những gì bao quanh chúng ta, là tổng hòa tất cả các điều kiện tác động lên đời sống và sự phát triển của tất cả các sinh vật ở các cấp độ tổ chức khác nhau. Mỗi loài sinh vật có môi trường sống đặc trưng cho mình. Môi trường sống của con người bao gồm cả các yếu tố trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử.
quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có quan hệ tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Ô nhiễm môi trường Đã có những định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn như: “Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác” [15]. Hoặc là: Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi các thành phần vật lý, hóa học, sinh học vượt quá mức cho phép gây tác hại đến sức khỏe con người và các sinh vật khác” [6].
Nhìn chung các định nghĩa này đều nhấn mạnh về sự thay đổi thành phần và tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường và sự thay đổi này gây tác hại đến sức khỏe con người và các sinh vật khác. - Giáo dục môi trường Con người, tự nhiên và xã hội có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, bởi vậy môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Giáo dục bảo vệ môi trường phải quan tâm đến cả việc giữ gìn và tôn tạo các di sản văn hóa và đó cũng chính là việc bảo vệ và phát triển bền vững môi trường [12]; [17]. Định nghĩa giáo dục môi trường (GDMT) thường được gắn với mục tiêu của GDMT.
Định nghĩa được chấp nhận một cách phổ biến nhất do Hội nghị Quốc tế về GDMT của liên hợp Quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra. Theo Hội nghị này, GDMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa, đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [12]. GDMT cũng được quan niệm là: “Một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường (MT) của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đề MT hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” [6]. Qua các định nghĩa nêu trên, có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng, GDMT nói chung (không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân giáo dục trong các trường phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp) có mục tiêu đem lại cho đối tượng các vấn đề sau: - Hiểu biết bản chất các vấn đề MT: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường.
Quan hệ chặt chẽ giữa MT và phát triển, giữa MT địa phương, vùng, Quốc gia với MT khu vực toàn cầu. Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các kiến thức về MT. - Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ. Như vậy, mục tiêu này có định hướng xây dựng kĩ năng, thái độ và cách đối xử thân thiện với MT.
- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT cụ thể nơi họ ở và làm việc.