CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề mối quan hệ liên môn 1. Nghiên cứu tại Việt Nam Hiện nay, dạy học tích hợp đã và đang được cả xã hội quan tâm và được coi là xu thế tất yếu trong sự phát triển của giáo dục nước nhà.
Dạy học tích hợp có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó quan điểm tích hợp liên môn và xuyên môn được chú trọng, giúp học sinh liên kết kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống. Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Cơ sở lý luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học bộ môn ở các trường sư phạm của tác giả Đinh Quang Báo (2003) [12]; Tác giả Trần Bá Hoành (2003) đưa ra một số khái niệm nền tảng về sư phạm tích hợp, các quan điểm và mục tiêu của sư phạm tích hợp, điều kiện và triển vọng để triển khai dạy học theo hướng tích hợp ở trường phổ thông tại Việt Nam trong đề tài “Dạy học tích hợp” [17]. Tác giả Nguyễn Thế Hưng (2012) đã nêu rõ một số quan điểm và phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có dạy học tích hợp trong tài liệu “Phương pháp dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông” [8]. Bên cạnh những nghiên cứu về mặt lí luận thì đã có một số nghiên cứu và đề tài đưa ra một số chủ đề tích hợp như là: Đề tài Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội - nhân văn và các môn công nghệ của Lê Đức Ngọc (2005) [18]; Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm của Nguyễn Đăng Trung (2003) [22].
Nguyễn Phúc Chỉnh và Trần Thị Mai Lan (2009) đề cập đến Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học, Sinh học 10. Theo đó thì việc tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học, vừa góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp sau này. Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi sinh vật lớp 10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc và biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp z trong dạy học vi sinh vật [13]. Tác giả Lê Trọng Sơn (1999) đưa ra đề tài “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 THCS”.
Theo đó, giáo dục dân số được lồng ghép vào môn Giải phẫu sinh lý người là thích hợp nhất. Ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số từ đó vận dụng quan điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên quan [19]. Như vậy, vấn đề dạy học tích hợp ở nước ta đã được nghiên cứu ở nhiều đề tài, làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giảng dạy tích hợp. Không những vậy, một số đề tài đã đưa ra các phương pháp dạy học cho một số chủ đề thích hợp với nhận thức của học sinh, phát huy tính tích cực và phát triển năng lực của học sinh.
Nghiên cứu ngoài nước Nhà giáo dục học T. Lina cho rằng tất cả các ngành khoa học được giảng dạy trong nhà trường có sử dụng số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những ví dụ lấy từ thực tiễn cuộc sống và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau. Đồng thời tác giả cho rằng nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng hợp là xác lập mối liên hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy mối liên hệ qua lại của các khoa học [26]. Trong cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle O.
Martin - Kniep có đề cập đến quy trình xây dựng các đơn vị bài học tích hợp. Chương trình tích hợp có nhiều hình thức khác nhau, trong đó tích hợp nội dung là hình thức kết nối nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau [24]. Dạy học tích hợp còn được một số đề tài nghiên cứu như tác phẩm “Hướng tới một chương trình giảng dạy tích hợp” của W. Trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”, các tác giả M.cho rằng “Việc sử dụng rộng rãi các môn học như vậy để bồi dưỡng các thủ thuật và phương pháp tư duy logic sẽ góp phần thực hiện một trong những yêu cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác lập các mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn trong dạy học [24].
Như vậy, có thể thấy rằng việc tích hợp trong dạy học đã và đang thu hút sự quan tâm của không ít nhà sư phạm trên thế giới. Khái niệm và phân loại các mối quan hệ liên môn 1. Khái niệm Tích hợp trong dạy học là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [5] và là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [17]. Tích hợp là một trong những nguyên tắc lựa chọn nội dung môn học quan trọng đảm bảo “sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [3, 10, 20].
Dạy học tích hợp là xu hướng chung trên thế giới nhằm “góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc giúp học sinh hòa nhập vào cuộc sống lao động. Sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. Như vậy, dạy học tích hợp là quá trình hình thành và hoàn thiện cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học để giải quyết những tình huống có vấn đề, cụ thể trong đời sống đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại [16]. Vai trò của nhà trường trong quá trình dạy học tích hợp không chỉ truyền đạt, cung cấp kiến thức mà cần phải giúp học sinh phát triển kĩ năng tìm kiếm, hệ thống hóa để quản lý thông tin và vận dụng vào những tình huống có ý nghĩa với học sinh.
Bên cạnh đó cần phải xây dựng và tổ chức những hoạt động tích hợp tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức, những kĩ năng, thao tác riêng lẻ đã được hình thành để giải quyết những tình huống có ý nghĩa trong thực tế đời sống. Quan điểm liên môn trong dạy học phản ánh sự liên kết nội dung các môn học có liên quan đến một vấn đề cụ thể cần giải quyết, trên cơ sở tích hợp liên môn có thể hình thành các môn học mới, ví dụ môn Khoa học tự nhiên được hình thành từ sự kết hợp các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học và môn Khoa học xã hội là sự kết hợp giữa các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân [14]. Phân loại các mối quan hệ liên môn z - Nhiều nhà khoa học đã phân chia các mức độ tích hợp theo các cách tiếp cận như sau [14]: Cách tiếp cận truyền thống: các môn học được giảng dạy riêng rẽ, độc lập, GV áp dụng quan điểm này trong giảng dạy từng môn như Toán học, vật lý, hóa học, sinh học. Hiện nay, các môn học trong trường phổ thông được dạy một cách riêng biệt, trong khuôn khổ kiến thức của môn học đó.
Các vấn đề được giải quyết trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó. Cách tiếp cận lồng ghép: một nội dung nào đó được lồng ghép vào chương trình đã có sẵn của một môn học trong nhà trường. Trong nhiều năm qua, tại Việt Nam đã kết hợp các chủ đề vào môn học khác nhau như: Tích hợp giáo dục môi trường trong môn Địa lý, Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong môn Sinh học, giáo dục công dân, Tích hợp giáo dục phòng chống tham nhũng trong môn giáo dục công dân. Cách tiếp cận tích hợp nội môn: Các lĩnh vực và nội dung thuộc cùng một môn học được học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định nhưng có sự loại bỏ các nội dung trùng lặp và có sự khai thác hỗ trợ của các phân môn.
Cách tiếp cận đa môn: Các môn học là riêng rẽ nhưng có những liên kết giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung. Cách tiếp cận liên môn: Các môn học kết nối với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung. Theo cách tiếp cận này thì giáo viên tổ chức dạy học xoay quanh các chủ đề/vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt. Cách tiếp cận xuyên môn: Theo cách tiếp cận này thì giáo viên tổ chức các hoạt động học liên quan đến những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với HS, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với môn học truyền thống.
Điểm khác biệt so với liên môn z là ở chỗ dạy học bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của HS. Xây dựng môn học mới bằng cách kết hợp hai hay nhiều môn học với nhau thành những chủ đề chính hay nhánh chính và không còn mang tên của mỗi môn học. - Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp được chia thành 2 nhóm lớn: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học. Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn khác nhau.
Cách tích hợp này tiến xa hơn cách tích hợp thứ nhất vì nó dẫn đến hợp nhất nhiều môn học. Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học.