BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI DE TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CAP TRUONG THICH UNG NGHE CUA SINH VIÊN TRUONG DAI HOC LUAT HA NOI SAU KHI TOT NGHIEP MA SO: LH-2014-39/DHL-HN Chủ nhiệm dé tài: TS. CHU VAN ĐỨC KHOA PHAP LUAT HÌNH SU TRUONG DAI HOC LUAT HA NOI TRUNG TAM THONG TIN THU VIEN TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NỘI PHONG ĐỌC NHỮNG NGƯƠI THỰC HIỆN ĐÈ TÀI 1. Chủ nhiệm dé tài: TS. Chu Văn Duc - 36 môn Tâm lí học, Trường DH Luật Hà Nội (chuyên đề 3, 4, 6 và 7).
Thư kí dé tài - ThS. Phan Kiều Hạnh - Bộ môn Tâm li học, Trường DH Luật Hà Nội (chuyên đề 5). Bùi Kim Chi - Trưởng bộ mér. -âm lí học, Trường DH Luật Hà Nội (chuyên đề 1) 4.
Dương Thi Loan — Phó truởng bộ môn Tâm lí học. Trường DH Luật Hà Nội (chuyên đề 8 ) 5. Phan Công Luận - Bộ môn Tân li học. Truong DH Luật Hà Nội (chuyên đề 2) 6.
Đặng Thanh Nga, Phó chủ nhiệm khoa Tại chức, ĐH Luật Hà Nội, Người xử lí sô liệu. DANH MỤC CHU VIET TAT TTÍ CHU VIET TAT CHU DAY DU 1 | DLC Độ lệch chuẩn 2 DIB Điểm trung bình 3 SVLTN Sinh viên trường ĐH Luật Hà Nội sau khi tốt nghiệp 4 TB Trung binh 5 TH Thứ hang 6 TU Thich ứng Mục lục Trang MJ DAU TONG THUAT KET QUA NGHIEN CUU Ting thuật kết quả nghiên cứu lí luận Tñng thuật kết quả nghiên cứu thực trạng 10 Kứ luận và kiến nghị 29 CC CHUYEN DE Chuyên dé 1: Lí luận về thích ứng và thích ứng nghề luật 32 Chuyên đề 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề luật 43 Chuyên đề 3: Xác định tiêu chí đánh giá và xây dựng bảng hỏi điều tra sự 56 thich ứng nghề của sinh viên trường DH Luật Hà Nội sau khi tốt nghiệp Chuyên dé 4: Thích ứng với nghề thâm phán của sinh viên trường DH 68 Luit Hà Nội sau khi tốt nghiệp Chiyén dé 5: Thich ứng với nghề kiểm sát viên của sinh viên trường DH 84 Lu:t Hà Nội sau khi tốt nghiệp Chiyên đề 6: Thích ứng với nghề chấp hành viên của sinh viên trường 94 DF Luật Hà Nội sau khi tốt nghiệp Chuyên đề 7: Thich ứng với nghề luật sư của sinh viên trường ĐH Luật 111 Hà Nội sau khi tốt nghiệp Chiyén đề 8: Thực trang ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ 126 qua đến sự thích ứng nghề của sinh viên trường DH Luật Hà Nội sau khi tốt ighiép Danh mục tài liệu tham khảo Phuluc MỞ DAU 1. Tính cấp thiết của đề tai Nghề là một công việc thường xuyên theo sở trường hoặc theo sự phân côrg của xã hội đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức, kỹ năng nhất định. Từ lâu ý nghĩa của nghề đối với mỗi người đã được thừa nhận.
Với người Việt, nghề được xem là một trong những vấn dé quan trọng nhất mà mỗi người phải giải quyết trong cuộc đời, nhất là với người nam — trụ cột trong mỗ. gia đình: “Làm nhà, cưới vợ, tậu trâu”, “An cư, lạc nghiệp”. Nghề đưa đến thu nhập giúp con người ổn định cuộc sống, nghề giúp con người phát huy khả năng của bản thân, cống hiến cho xã hội.Nghĩa là đem đến hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, tìm được một nghề phù hợp để phát huy sở trường của mình và đóng góp cho xã hội không phải là dễ trong xã hội đương đại, kế cả với những người được đào tạo bài bản ở các trường đại học, cao đẳng, kê cả ở trong nước và ngòai nước.
Những công trình nghiên cứu được tiến hành ở Nga, Mỹ, Phần Lan. cho thấy sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đăng đều phải trải qua một giai đoạn tìm kiếm và làm quen với :ông việc. Giai đoạn này có thê kéo dài nhiều năm và có những người phải thay đổi công việc, thay đổi chỗ làm nhiều lần mới tìm được công việc phù hợp. Đây là giai đoạn thích ứng nghề và một trong những yếu tổ có vai trò quan trọng ở đáy là chất lượng đào tạo và sự phù hợp giữa chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đăng với nhu cầu thực tiễn.
Bởi vậy các trường đại học với mong muốn phát triển ổn định và bền vững điều quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảo tạo và xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. O nước ta trong thời gian qua, công tác giáo duc và dao tạo nói chung va đại học, cao đăng nói riêng có nhiều bat cập. Một trong những vân dé nôi cộm được nêu lên nhiêu ở các cuộc hội thảo, hội nghị đánh giá về dao tạo đại học là chưcng trình lạc hậu, chất lượng thấp, đào tạo không theo nhu câu xã hội, sinh viên sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu tuyên dụng, tỉnh trạng “thừa thay, thiéu thợ” v. Nói cach khác, sinh viên sau khi tốt nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng nghé và phát huy khả năng của bản thân.
Trong những năm qua, trường ĐH Luật Hà Nội luôn là một trong những cơ sở đào tạo nhân lực pháp lý lớn nhất cả nước và hiện Trường đặt mục tiêu trở thành trung tâm dao tạo cán bộ pháp lý, trung tâm nghiên cứu khoa học pháp lý trong điểm của cả nước. Bên cạnh đó, Trường cũng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều cơ sở đào tạo nhân lực pháp lý khác. Trong bối cảnh như vậy, dé dat mục tiêu của mình, Trường không thê không tìm cách đổi mới chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của mình, đảm bảo nhân lực do Trường đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Vậy chương trình và chất lượng đào tạo của trường ĐH Luật Hà Nội hiện nay như thế nào, đã đáp ứng được yêu cầu của xã hội chưa, và nếu cần điều chỉnh thì điều chỉnh ra sao? Rõ ràng là đề trả lời những câu hỏi này cần nghiên cứu quá trình thích ứng nghé, thích ứng với công việc của sinh viên sau tốt nghiệp do Trường đảo tạo.
Tình hình nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, vấn đẻ thích ứng nói chung và thích ứng nghề nói riêng đã sớm được quan tâm nghiên cứu, nhất là sau khi C. Darwin đưa ra thuyết tiễn hóa (1858) trong đó nhắn mạnh điều kiện sinh tồn của sinh vật là thích ứng với môi trường [3]. Hugo Munsterberg (1863 — 1916) — được xem là ông tổ của tâm lí học công nghiệp, là một trong những người dé cập đến năng lực cá nhân và vấn dé thích ứng nghề. Trong hai tác phẩm Thién khiếu và học tập (1912) và Tâm lí học và hiệu năng công nghiệp (1913), ông cho rằng sự tương thích giữa kỹ năng, phẩm chất của mỗi người với công việc mà người đó đảm nhiệm là điều kiện để tăng năng suất lao động, do đó cần lưu ý đến khác biệt cá nhân khi tuyển dung và dao tạo lao động [9].
Sang thé ky XX, van dé thích ứng nghề, năng lực nghề, chọn nghề phù hợp được đặc biệt quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước: Nga, Mỹ, Anh v. Chăng hạn, ở Phần Lan, M. Vôlanen đã dành nhiều công sức để khảo sát sự thích ứng nghề và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên. Kết quả nghiên cứu của ông cho thay giữa việc học nghề và lao động nghé của thanh niên tồn tại một thời kỳ chuyền tiếp có thé kéo dài đến 5 - 7 năm, được đặc trưng bởi hàng loạt sự kiện như thất nghiệp, những công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đôi ngành nghề.
Volanen xem đây là giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào việc ở giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không. Ở nước ta trong khoảng vài chục năm trở lại đây, vấn đề thích ứng nghề của sinh viên, đặc biệt là ở giai đoạn học tập tại các trường cao đẳng và đại học, được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. - Năm 1996, tác giả Đỗ Mạnh Tôn đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về đề tài "Nghiên cứu sự thích ứng đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sĩ quan quân đội". Trong luận án của mình, sau khi phân tích những cơ sở lý luận của đề tài, tác giả cho răng "thích ứng đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sĩ quan quân đội là một phẩm chất phức hợp, cơ động của nhân cách học viên, biểu hiện ở quá trình người học tự tô chức hoạt động học tập, rèn luyện của mình dưới sự định hướng của người thầy và nhà trường nhăm phát triển các chức năng tâm sinh lí, các phẩm chất tong hop của nhân cach, đạt tới sự phù hợp tối đa với những điều kiện học tập và rèn luyện ở nhà trường sĩ quan"[22].
Trên cơ sở khái niệm này, tác giả Đỗ Mạnh Tôn tiến hành điều tra thực tiễn sự thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các trường sĩ quan quân đội theo cấu trúc ba thành phần: động cơ học tập và rèn luyện; kỹ năng, kỹ xảo học tập, rèn luyện; thói quen sinh hoạt, học tập và rèn luyện. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung học viên các trường sĩ quan quân đội có mức độ thích ứng khá cao với hoạt động học tập vả rèn luyện, song cũng còn những hạn chế nhất định và hạn chế tập trung nhất ở mặt kỹ năng, kỹ xảo. Trên cơ sở đó, tác giả tiền hành thực nghiệm tác động về mặt kỹ xảo nhằm nâng cao mức độ thích ứng của học viên [22]. - Trong 2 năm học 2002 — 2003 va 2003 — 2004, nhằm mục đích định hướng cho hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên, tại trường DH Sư phạm Hà Nội, tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tiễn hành nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên ĐH Sư phạm Hà Nội trên ba mặt: nhận thức về các nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và hành vi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Kết quả nghiên cứu đưa tác giả đến kết luận rằng, nhìn chung, tất cả các sinh viên đều thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nhưng mức độ thích ứng không cao, chỉ ở mức trung bình và khá; hơn nữa, sự thích ứng của sinh viên là không đồng đều trên các mặt được nghiên cứu.