mở đầu là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) với Deutsche Bank đã thực hiện thành công việc phát hành 1000 tỷ đồng trái phiếu, trong đó người mua hầu hết là nhà đầu tư nước ngoài. Giải pháp phát triển bền vững TTCK Việt Nam Một là: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thực hiện các cam kết WTO một cách nghiêm túc, hoàn thiện thể chế thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng, tố chức to và điều hành TTCK theo đúng chuẩn mực quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, tính công khai trong các hoạt động của thị trường. Luật Chứng khoán da có hiệu lực từ 1/1/2007, Nghị định 69/2007/NĐ - CP qui dinh nhà dầu tư nước ngoải mua cỗ phần tại các NHTM Việt Nam; Thông tư 38/2007/TT - BTC về công bố thông tin. song hoạt động kinh doanh & đầu tư chứng khoán là lĩnh vực rất nhậy cảm, liên quan đên nhiều lĩnh vực, nên cần thiết có đầy đú hệ thống khuôn khổ pháp lý để kiểm soát các hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không vi phạm quy định của WTO.
Một điều nữa cần lưu ý là sự luân chuyển của các luồng vốn quốc tế vào Việt Nam. một mặt sẽ tạo điều kiện cho TICK sôi động và đóng góp một nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. mặt khác sẽ là một nguy cơ tiềm tàng cho các bắt ôn và suy thoái kinh tế vĩ mô. Kinh nghiệm của thé giới với các cuộc khúng hoảng tài chính cho thấy nguy cơ này có thể ngăn chặn băng việc quản lí tài khoán vốn thích hợp, giám sát chặt chẽ các tổ chức tài chính.
ngân hàng và tăng cường hợp tác quốc tế trong xử lí các rủi ro liên quan đến sự biến động mạnh của các luồng vốn ngắn hạn sẽ là những biện pháp hữu hiệu nhất đê củng cổ "sức khỏe” của hệ thống tài chính — ngân hàng, đám báo khá năng đối phó lại với các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Hai là: Đây nhanh tiến trình cỗ phần hoá các DNNN và 4 NHTMNN đi đôi với việc niêm yết cô phiếu trên sàn giao dịch là một trong những biện pháp cơ bản tăng cung hàng hoá có chất lượng cho TTCK hiện nay. Các công ty cô phần tham gia TTCK, cần có chế tài đủ mạnh để các công ty cung cấp đầy dủ thông tin cho thi trường. Áp dụng các chuẩn mực quốc tế tốt nhất trong quản trị công ty.
Mặt khác nhà nước cân bán bớt cố phần tại một số DN cô phần hoá xét thấy nhà nước không cần phải năm, nhằm tăng hàng hoá cho thị trường, dong thời thực hiện chức năng điều tiết thị trường với tiềm lực chi phối đủ mạnh. Ba là: Dẻ có thể cạnh tranh với các công ty chứng khoán nước ngoài, các công ty chứng khoán trong nước cần xây dựng một lộ trình cạnh tranh cụ thé với các giải pháp như: (¡) Cái thiện quy mô vốn, có thể chuyển một số các công ty chứng khoán sang loại hình công ty cô phần để tăng vốn; (1) Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vu; (iii) Nang cao chat lượng nguồn nhân lực của các công ty chứng khoán, đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại cũng như tương lai: (iv) Nâng cấp và đối mới hệ thống công nghệ thông tin nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thị trường của các nhà đâu tư; (v) Thực hiện việc quản trị công ty chứng khoán theo thông lệ quốc tế tốt nhất. Nâng cao khả năng giám sát, kiếm soát nội bộ và hiệu quả tác nghiệp của công ty chứng khoán. Bốn là: Xây dựng thị trường trái phiếu Chính phủ trên cơ sở tham gia của các nhà tạo lập thị trường: (¡) khuyến khích các tập đoàn, các công ty lớn phát hành trái phiếu doanh nghiệp: (ii) Cai tiễn cách thức giao dịch trái phiếu để tăng tính thanh khoản của thị trường: (iii) Chuan hoá các đợt phát hành trái phiếu đề thuận tiện cho nhà đầu tư theo dõi, năm bắt diễn biến giá cả của từng loại, tăng tính hấp dẫn của trái phiếu; (iv) Thiết lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng như những nhà tạo lập thị trường.
mua là thăng”, tình trạng mua bán Năm là: TTCK Việt Nam có lẽ đã qua thời "cứ Vì vậy, cân đên tinh ben ving của thị trường. theo '“phong trào” đã ảnh hướng kh ông nhỏ đầu tư, biến kiến t hức ra công chúng. giúp các nhà tăng cường công tác tuyên truyền, phổ. kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK đặc biệt nhà đầu tư cá nhân có những wn DIEU HANH CHINH SACH TIEN TE CUA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG BÓI CẢNH PHAT TRIEN THI TRUONG CHUNG KHOAN TS.
Nguyén Ngoc Bao Vụ trưởng Vụ Chính sách tiễn tệ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trong quá trình chuyển sang nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường tài chính - tiền tệ là một bước đi quan trọng, tạo cơ sở cho việc điều tiết nền kinh tế một cách gián tiếp thông qua cơ chế thị trường. Với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh vào tháng 7/2000 và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội vào thang 3/2005, cau tric thi trường tài chính Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện (bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn). Sự phát triển của thị trường tài chính - tiền tệ, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) không những giúp huy động tôi da các nguồn vốn dễ phát triên kinh tế mà còn giúp cho việc thực thi các chính sách kinh tế vi mô, trong đó có chính sách tiền tệ, hiệu qua hơn.
Song mặt khác. trong bồi cảnh nẻn kinh tế Việt Nam hội nhập ngày cảng sâu rộng với nên kinh tế thế giới, sự phát triên nhanh của thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán, cũng đặt một số thách thức đối với việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Bài viết này tập trung vào việc đánh giá tác động của TTCK đối với việc điều hành CSTT. Đánh giá tông quan Thị trường Chứng khoán Việt Nam: Sau 6 năm hoạt động va phát triển, TTCK đã có được những thành tựu đầy an tượng, khăng định cho sự chuyển đổi thành công sang nên kinh tế thị trường của Việt Nam.
Tại thời điểm ban đầu khi Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) Tp Hỗ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động ngày 28/7/2000 mới chí có 2 cỗ phiếu được đưa vào giao dịch với tổng giá trị vốn niêm yết là 270 tỷ đồng và 6 công ty chứng khoán đăng ky lam thành viên. Cho đến cuối năm 2005, tổng giá trị thị trườn g của các chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 47.478 tỷ đồng, tương đương 6,1% GDP, trong đó cô phiếu chiếm 1.2% GDP và trái phiếu chiếm 4,9% GDP. Sé công ty chứng khoán thành viên được cấp phép hoạt động là 15 công ty. Năm 2006, TTCK có sự tăng trưởng vượt bậc cả về số lượng hàng hóa, gia tri giao dich và sự tham gia của các nhà đầu tư.
Tính đến ngày 31/12/2006, đã có 193 công ty niêm yết tại TTGDCK Hà Nội và TP. Hỏ Chí Minh. Tổng giá trị vốn đạt 221.156 tị đồng (tương đương 14 ti USD), bang 22.7% GDP nam 2006, tang gần 20 lần so với cuối nam 2005 va vuot xa muc ticu dat 15% GDP vao nam 2010 của Chiến lược phát triển TTCK. VN-Index 6 tănp mạnh, đạt 751,77 điểm vào phiên giao dịch cuối cùng của năm 2006, tăng 144% so với mức 307,5 điểm của phiên cuối cùng năm 2005 trong khi mức tăng trưởng của năm 2005 chỉ là 28%.
Thị trường trái phiếu cũng có sự phát triển tương tự. Tính đến cuỗi năm 2006. đã có 458 loại trái phiếu được giao dịch, trong đó có trái phiêu Chính phủ, trái phiếu thành phố và trái phiếu các ngân hàng thương mại với tông giá trị 70.000 tỉ đồng, chiếm 7,7% GDP. Bước sang đầu năm 2007, TTCK tiếp tục tăng trưởng mạnh, đặc biệt là giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài.
Chỉ số VN-Index và HaSTC đều tăng trưởng mạnh. VN- Index nhanh chóng vượt mốc 1.000 điểm, ghi kỷ lục ở mức 1. Đóng cửa phiên giao dịch cuối tháng 3/2007, VN-Index đạt mức 1.53% so với phiên mớ cửa năm 2007. Kết thúc quý I⁄2007, HaSTC đạt mức 404.03% so với phiên giao dịch đầu năm 2007.
Trong quý, HaSTC cũng đạt mức ky lục 454,81 điêm vào ngày 3/3/2007. Bên cạnh việc đầu tư thông qua các TTGDCK, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng tham gia mạnh mẽ vào việc mua cô phần, cô phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa được niêm yết tại các TFGDCK. Điều này cho thay quy mô và phạm vi cua TTCK phat triển sâu và rộng hơn. Đồ thị: Diễn biễn chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch 2006-2007 2.
Một số diễn biến nối bật trong hoạt động đầu tư chứng khoán: Thông thường. TTCK tăng trưởng nhanh là một dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang trong tình trạng lạc quan, tăng trưởng kinh tế cao và ôn định. Tuy nhiên, trong diễn biến TTCK Việt Nam cần lưu ý một số vẫn đề sau: - Theo nhận định của nhiều chuyên gia, TTCK Việt Nam đang tăng trưởng "quá nóng": Yêu tố "bong bóng" trên thị trường rất rõ thê hiện ở chỉ sô P/E bình quân hiện nay đang vượt xa mức an toàn thông thường. Theo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến thời điêm cuối tháng 3/2007.
chỉ số P/E bình quân tại TTDGCK Tp. Hồ Chí Minh là 28,40, tại FTIDGCK Hà nội là 45,10, trong khi mức được coi là an toàn chỉ trong phạm vi từ 10 - 17. Trong cuộc khủng hoảng tải chính - tiền tệ 1997-1998, thị trường chứng khoán của các nước Châu Á cũng được đánh giá là tăng trưởng quá nóng với mức tăng trưởng bình quân toàn khu vực là 165% so với đầu thập ký 90 và chỉ số P/E lúc cao nhất dao động từ 18 đến 39 tùy theo từng nước. - Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trên TTCK tăng mạnh, tạo ra một luỗng vẫn dẫu tư gián tiếp khá lớn và làm thay đổi đáng kể cơ cấu luéng von đố vào Việt Nam: lIiện nay, nhà DTNN dau tu gian tiép vao Viét Nam co thé thong qua các TIGDCK hoặc góp vốn mua cô phần tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Nhìn chung, số lượng nhà ĐTNN là tổ chức tham gia trên TTCK tăng nhanh trong vòng 10 tháng qua với sự có mặt của một loạt các tên tuổi lớn như Citi Group, Merrill Lynch, HSBC, Deutsche AG, JP Morgan, Morgan Stanley.