CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA SINGAPORE 1. Giới thiệu tổng quan về quốc gia Singapore 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý là một yếu tố quan trọng trong chiến lược và sự phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, không phải nhất thiết quốc gia nào phát triển cũng có được những điều kiện thiên nhiên lý tưởng.
Singapore là một ví dụ điển hình, trong cuốn hồi ký của mình, Lý Quang Diệu viết: “Singapore không phải là một đất nước tự nhiên, mà là một đất nước do con người tạo nên”, nó là hòn đảo mà không có phần nội địa, là “một trái tim không thể xác” [7:19]. Đúng vậy, Singapore bao gồm hòn đảo chính Singapore và 58 hòn đảo nhỏ với tổng diện tích khoảng 647,5km2, trong đó, đảo chính là đảo Singapore với 150,5km bờ biển có diện tích khoảng 580km2. Singapore nằm ở cuối cực Nam bán đảo Malacca, cách xích đạo về phía Bắc khoảng 137km. Nối liền giữa Singapore và bán đảo Malacca là một đập bê tông lớn dài hơn 1km, chắn ngang qua vịnh Johore, được xây dựng từ thời thuộc địa Anh.
Đây là huyết mạch giao thông bằng đường bộ và đường sắt duy nhất nối đảo với đất liền, đồng thời là hệ thống dẫn nước ngọt từ Malaysia cung cấp cho Singapore. Trong khi nhiều quốc gia khác trong khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có thì Singapore chỉ có ít than chì, nham thạch pha lẫn đất sét. Đất đai kém màu mỡ, không thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp. Địa hình là bình nguyên xen kẽ với các gò đống, đồi thấp và đầm lầy.
Trước đây ở những thung lũng, sườn đồi và những khu đất bằng phẳng là những cánh rừng nhiệt đới nhiều tầng thực vật, động vật hoang dã như hổ, báo, trăn, ba ba, thuồng luồng và cá sấu. Từ những năm 60 trở lại đây, những cánh rừng nhiệt đới ngày càng thu nhỏ lại, chỉ còn vài nơi được giữ lại làm vườn thực vật quốc gia. Nguồn tài nguyên thiên nhiên còn lại của Singapore chỉ là nguồn cá biển và nước biển. Nhưng nguồn “biển bạc” 12 này cũng đang bị khai thác cạn dần đi.
Như vậy, với những điều kiên tự nhiên này, sản xuất nông nghiệp không tồn tại ở Singapore và hầu như phải nhập toàn bộ lương thực và thực phẩm từ nước ngoài, thậm chí còn phải nhập cả nước ngọt để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Singapore nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xích đạo, cách xích đạo khoảng 120km về phía Bắc, lại có bờ biển bao bọc xung quanh nên khí hậu quanh năm tương đối dễ chịu hơn. Nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch không lớn. Nhiệt độ bình quân cả ngày trong năm là 270C (ban ngày là 310C và ban đêm là 240C).
Vào những tháng có gió mùa Đông Bắc, khí hậu ở Singapore càng trở nên mát mẻ hơn. Độ ẩm bình quân hàng ngày trong năm là 85%. Lượng mưa trung bình hằng năm khá cao, khoảng 2350mm.[14:71] Tuy vậy, lượng nước ngọt vẫn không thể cung cấp được cho nhu cầu tiêu thụ trong nước. Nếu bị “ngược đãi” về tài nguyên thiên nhiên thì Singapore lại được thiên nhiên ban tặng một vị trí chiến lược đặc biệt thuận lợi và hải cảng có mực nước sâu tự nhiên để phát triển nền kinh tế về biển.
Với vị trí địa lý chiến lược nằm trên con đường buôn bán bằng đường biển giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa, Singapore đã bắt đầu phát triển nền kinh tế của mình bằng việc trở thành một trung tâm gia công chế biến các hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích tái xuất khẩu, một trung tâm cảng biển với quy mô hoạt động sầm uất, một nền công nghiệp hiện đại và là một điểm du lịch hấp dẫn. Như vậy xét về mặt diện tích và địa hình, đất đai, Singapore chỉ là một đảo quốc và là quốc gia có diện tích nhỏ nhất ở Đông Nam Á. Nhưng do nằm ở vị trí đắc địa, Singapore luôn là mối quan tâm hàng đầu về nhiều mặt của các cường quốc trong và ngoài khu vực kể từ khi giao lưu buôn bán phát triển. Dân cư, ngôn ngữ, tôn giáo Singapore là một quốc gia trẻ với nhiều dân tộc và đa sắc thái văn hóa, được hình thành chủ yếu dựa trên nền tảng dân nhập cư từ Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ 13 và châu Âu.
Từ thế kỷ XIX trở về trước, nơi đây chỉ là một làng chài cá nhỏ có một số ít người dân sinh sống. Đến năm 1819, khi thực dân Anh chiếm đảo, dân số của Singapore mới bắt đầu tăng lên nhờ chính sách mở cửa chào đón các thuyền buôn “dưới mọi sắc cờ” đã thu hút dòng người nhập cư từ bốn phương về đây. Vào năm 1824, dân số của hòn đảo này chỉ có gần 11.000 người (trong đó có 60% là người Malaysia, 31% là người Hoa, 7% là người Ấn Độ và 2% là người châu Âu), nhưng đến năm 1871 con số đó đã lên đến 79.000 người, trong số đó người Hoa chiếm tới 56% và họ trở thành nhóm cộng đồng dân tộc chính trong cơ cấu dân cư – dân tộc của Singapore cho đến tận ngày nay [23:13]. Và cứ như vậy, dân số của Singapore vẫn tăng lên hằng năm.
Tính đến tháng 6/2012, tổng số dân định cư của Singapore là 5. Trong đó cộng đồng người Hoa chiếm 74,2%, cộng đồng người Malaysia chiếm 13,3%, cộng đồng người Ấn Độ chiếm 9,2% và các nhóm cộng đồng dân tộc khác chiếm 3,3%.1 Khi Singapore còn là thuộc địa của Anh, tại đây đã có sự phân chia các quần thể dân cư theo đặc điểm dân tộc và nghề nghiệp. Nhóm cộng đồng người Hoa thường tập trung sinh sống dọc theo các cửa sông, ven bờ biển ở phía Đông Nam của đảo Singapore. Đây là khu vực đất đai tương đối bằng phẳng và tập trung nhiều đầu mối buôn bán và giao dịch quốc tế.
Nhóm người Malay thì sống rải rác khắp đảo, không tập trung thành những quần thể lớn như người Hoa. Còn cộng đồng người Ấn thường tụ tập thành từng quần thể sống ngay sát nơi định cư của người Hoa và người châu Âu. Sự phân chia từng khu vực riêng rẽ của các tộc người ở Singapore rất dễ xảy ra xung đột sắc tộc, do đó, Chính phủ Singapore chủ trương muốn xã hội ổn định cần phải tạo ra một môi trường sống cho những người khác chủng tộc gần gũi nhau hơn. Chủ trương này liên quan đến chương trình xây dựng nhà ở công cộng theo từng khối do Chính phủ Singapore tiến hành sau khi độc lập đã góp phần phá vỡ những địa giới định cư của từng nhóm sắc tộc.
Theo chính sách này quy định, tại các khu dân cư, số người Hoa không được vượt quá 84%, người 1 Các số liệu về dân số Singapore được lấy từ văn bản Population trends 2012 của Department of Statistics Singapore. 14 Malay không được vượt quá 22%, người Ấn Độ không được vượt quá 10%, làm như vậy sẽ đảm bảo cho các khu vực dân cư vừa có cả người Hoa, vừa có cả người Malay, người Ấn Độ. Tuy chính sách này đã phá vỡ sự phân khu các sắc tộc, nhưng các nhóm cộng đồng dân tộc sinh sống tại Singapore vẫn lưu giữ được những nét đặc trưng trong nền văn hóa truyền thống của cha ông họ. Chẳng hạn, người Hoa thì theo Phật giáo, thờ cúng tổ tiên, sinh hoạt và ứng xử trong gia đình còn mang đậm dấu ấn của Khổng giáo, họ nói tiếng Hoa phổ thông hay tiếng địa phương.
Người Malay thì hầu như 100% theo Hồi giáo, nói tiếng mẹ đẻ. Người Ấn Độ theo Hindu giáo và nói tiếng Tamin. Người Châu Âu theo đạo Thiên chúa (gồm có đạo Kitô và đạo Tin lành), nói tiếng Anh. Và từ trước đến nay tại Singapore không có một tôn giáo nào được công nhận là quốc giáo.
Về thành phần dân tộc trong cơ cấu dân cư của Singapore thì người Hoa là nhóm tộc người đông nhất, chiếm tới 74,2%. Phần lớn trong số đó là người gốc từ Phúc Kiến và Triều Châu, một số từ Đài Loan sang. Những người này luôn có tính cần cù lao động, tiết kiệm và tự lực, chủ yếu họ làm nghề buôn bán, kinh doanh. Có lẽ vì thế mà họ luôn chi phối hầu như toàn bộ nền kinh tế ở Singapore, nhất là về tài chính, công nghiệp và dịch vụ.
Mặc dù số lượng người Hoa nhập cư chiếm đông đảo nhưng các nhà cầm quyền Singapore vẫn luôn chủ trương xây dựng một dân tộc Singapore riêng biệt đa chủng tộc và luôn bác bỏ ý kiến coi họ như là một “Trung Quốc thứ ba”. Cộng đồng người Malay là nhóm tộc người lớn thứ hai, chiếm khoảng 13,3% dân số của Singapore. Nhóm cộng đồng này gồm người Malay, người gốc Java, người Bugia và người Baline. Đặc trưng của nhóm người này là hiền lành, an phận, cần cù, chủ yếu làm nghề sông nước, đánh cá, đốn rừng và thợ mộc.
Chính vì thế, quá trình hòa nhập giữa các nhóm nhỏ trong cộng này diễn ra khá êm thấm và cũng bởi lẽ giữa họ đều có chung một nguồn gốc chủng tộc, chung tôn giáo và nền văn hóa sở hữu. So với các nhóm cộng đồng khác, nhóm người Malay có tỷ lệ sinh đẻ cao nhất, tuy nhiên trình độ học vấn và đời sống vật chất thấp hơn cả. 15 Cộng đồng người Ấn Độ là nhóm tộc người lớn thứ ba, chiếm khoảng 9,2% tổng số dân cư của đảo quốc này. Phần lớn trong số họ là người gốc Tamin (miền Nam Ấn Độ), họ đến Singapore từ những năm 20-30 của thế kỷ XIX, hầu hết họ xuất thân từ những binh lính, chỉ có vài người thương nhân chủ yếu từ cộng đồng người Ấn ở đảo Penang.
Ngoài ba nhóm cộng đồng dân tộc chính kể trên, ở Singapore còn có cộng đồng người châu Âu (chủ yếu là nguồn gốc Anglo – Sacxons), cộng đồng người Ả rập và các nhóm tộc người số ít khác. Về ngôn ngữ, bốn thứ tiếng gồm tiếng Malay, tiếng Hoa phổ thông, tiếng Tamin và tiếng Anh được Nhà nước công nhận là những ngôn ngữ chính. Tiếng Malay là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Anh được sử dụng chính trong thương mại, hành chính và giáo dục. Chính sách giáo dục song ngữ (gồm tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ) đã làm cho đại bộ phận dân chúng Singapore thông thạo ít nhất hai thứ tiếng.