Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1. Khái niệm: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm: mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi. Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [1].
Nguyên nhân Đa số các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là do virus. Vi khuẩn cũng là nguyên nhân quan trọng gây NKHHCT ở trẻ em, đặc biệt là các nước đang phát triển. Thường gặp nhất là do Haemophilus influenzae và Streptococcus pneumoniae [3]. Các nguyên nhân như nấm, ký sinh trùng ít gặp hơn [15].
Yếu tố nguy cơ - Tuổi: Tuổi càng nhỏ càng dễ mắc NKHHCT. - Thời tiết: Bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh, thay đổi độ ẩm và chuyển mùa (thường tháng 4 -5 và tháng 9 – 10). - Môi trường: Môi trường vệ sinh kém, nhà chật chội, ẩm thấp, nhiều bụi, khói… - Dinh dưỡng, bệnh tật: Bệnh hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, đẻ non, không bú sữa mẹ… - Cơ địa: Trẻ có cơ địa dị ứng,…[3]. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trẻ đẻ ra cân nặng dưới 2500g, trẻ thiếu vitamin A, trẻ nam, trình độ học vấn của bà mẹ cũng liên quan đến tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ [13], [15], [40].
Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra thiếu nước sinh hoạt, bệnh nền kèm theo, tiêm chủng không đầy đủ cũng làm ra tăng tỷ lệ này [21], [38], [35]. Phân loại * Phân loại theo vị trí giải phẫu [3], [11]. Có nhiều cách phân loại nhưng hiện nay người ta đã thống nhất lấy nắp thanh quản làm ranh giới. Nếu tổn thương các bộ phận trên nắp thanh quản là NKHH trên, 5 tổn thương các bộ phận dưới nắp thanh quản là NKHH dưới.
- Nhiễm khuẩn hô hấp trên gồm: Cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi họng. - Nhiễm khuẩn hô hấp dưới ít gặp hơn và thường là nặng gồm: Viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, viêm phổi, màng phổi. * Phân loại theo mức độ nặng nhẹ [3], [11]. Thường được sử dụng trong thực tế để xây dựng phác đồ chẩn đoán và xử trí: NKHHCT thể nhẹ , NKHHCT thể vừa, NKHHCT thể nặng, NKHHCT thể rất nặng.
Dấu hiệu lâm sàng Trẻ bị NKHHCT có dấu hiệu lâm sàng sau: [4], [6], [13] * Dấu hiệu thường gặp: - Ho. - Nhịp thở nhanh: + Trẻ < 2 tháng: nhịp thở ≥ 60 lần/phút là thở nhanh + Trẻ 2 - 12 tháng: nhịp thở ≥ 50 lần/ phút là thở nhanh + Trẻ 12 tháng - 5 tuổi: nhịp thở ≥ 40 lần/phút là thở nhanh - Rút lõm lồng ngực (RLLN). - Thở khò khè. Thông thường ho, thở nhanh và rút lõm lồng ngực là 3 dấu hiệu cơ bản và dễ dàng phát hiện NKHHCT ở trẻ em và tại cộng đồng [15].
* Dấu hiệu nguy kịch Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi: - Trẻ không uống được hoặc bỏ bú. - Ngủ li bì hoặc khó đánh thức: Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngủ li bì hoặc mở mắt rồi lại ngủ ngay (khó đánh thức). 6 - Thở rít khi nằm yên. - Suy dinh dưỡng nặng.
Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi: - Bú kém hoặc bỏ bú. - Ngủ li bì hoặc khó đánh thức. - Thở rít khi nằm yên. - Thở khò khè.
- Sốt hoặc hạ nhiệt độ. Chăm sóc trẻ tại nhà * Chăm sóc tại nhà cho trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi: - Tiếp tục cho trẻ ăn khi ốm. - Bồi dưỡng thêm khi trẻ bị bệnh. - Cho trẻ uống đủ nước.
- Cho trẻ bú nhiều lần. - Điều trị ho và đau họng bằng thuốc thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường phèn, hoa hồng hấp đường phèn, mật ong,. - Đưa trẻ đến CSYT khám khi có 1 trong các dấu hiệu sau: + Khó thở hơn. * Chăm sóc tại nhà cho trẻ dưới 2 tháng: - Giữ ấm cho trẻ.
- Cho bú thường xuyên hơn. - Làm thông thoáng mũi. - Theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau: + Thở nhanh hơn. * Chăm sóc trẻ bị sốt: - Đặt trẻ nằm phòng thoáng mát.
- Nới rộng quần áo, tã lót. - Cho trẻ uống nhiều nước. - Chườm mát hoặc chườm ấm. - Khi trẻ sốt ≥ 38,5 0 C: dùng thuốc hạ sốt Paracetamol 10 –15mg/kg/lần [3], [11], [13].
Phòng bệnh - Bảo đảm cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh càng sớm càng tốt. - Cho trẻ ăn sam đúng, đảm bảo chế độ dinh dưỡng hằng ngày. - Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ, không nên đun bếp hay hút thuốc trong phòng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ. - Giữ ấm cho trẻ nhất là vào mùa lạnh và khi thay đổi thời tiết.
- Tiêm chủng phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch. - Phát hiện sớm và xử trí kịp thời những trường hợp NKHHCT theo phác đồ. - Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ cách phát hiện, xử trí và chăm sóc trẻ NKHHCT. - Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan [3], [13].
Vai trò truyền thông giáo dục sức khỏe Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người. GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe. Giáo dục sức khỏe nói chung tác động đến 3 lĩnh vực: kiến thức của con người về sức khỏe, thái độ của con người về sức khỏe, thực hành của con người về sức khỏe Mục đích quan trọng cuối cùng của TT- GDSK là làm cho mọi người từ bỏ các hành vi có hại và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, đây là một quá trình 8 lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, với sự tham gia của ngành y tế và các ngành khác. Trong TT- GDSK chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề là làm thế nào để mọi người hiểu được các yếu tố nào có lợi và yếu tố nào có hại cho sức khỏe, từ đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành hành vi có lợi cho sức khỏe và từ bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe [14].
Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe là hoạt động không thể thiếu được trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực tế cho thấy có rất nhiều căn bệnh hoàn toàn có thể ngăn chặn được nếu biết cách phòng ngừa. Một khi người dân đã hiểu sâu về các loại bệnh thì họ sẽ biết cách tự phòng bệnh cho mình, cho gia đình và cho xã hội, hạn chế mắc bệnh, giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, giảm quá tải bệnh viện. Vì vậy, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nhân dân [8].
Tình hình NKHHCT trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Theo nghiên cứu của Zar và cộng sự, nhóm bệnh hô hấp là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh tật trên toàn thế giới, với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đặc biệt dễ mắc bệnh. Trong đó, viêm phổi vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em, gây ra gần 1,3 triệu ca tử vong mỗi năm [49]. Nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu Harish Nair và các cộng sự, toàn thế giới có 1,4 triệu trẻ em đã chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.
Trong đó, nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới cấp tính (ALRI), như viêm phổi và viêm phế quản, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ nhỏ [45]. Theo báo cáo The Lancet, năm 2013 thế giới có 6,3 triệu trẻ em chết trước 5 tuổi. Ba nguyên nhân hàng đầu là biến chứng sinh non, viêm phổi và các biến chứng liên quan đến nội sọ [43]. Ở cấp độ toàn cầu, tỷ lệ tử vong do NKHH dưới ở trẻ dưới 5 tuổi xảy ra ở 104 trẻ em trên 100000 trẻ và thay đổi theo vùng và quốc gia.
Tỷ lệ tử vong này cao nhất là ở châu Phi cận Sahara, ở Somalia và thấp nhất là ở Phần Lan, ở Tây Âu. Tổng số ca tử do NKHH dưới ở trẻ dưới 5 tuổi lớn nhất xảy ra ở Ấn Độ 9 (140649 trường hợp tử vong). Tỷ lệ tử vong này gần như tương đương ở nam và nữ ở cấp độ toàn cầu; nhưng ở Nam Á, tỷ lệ này ở nữ cao gấp 1,2 lần so với nam. Nghiên cứu GBD (the global burden of diseaser, injuries and risk factors) 2015 ước tính rằng NKHH dưới là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ năm (trong số 249 nguyên nhân) và là nguyên nhân nhiễm trùng hàng đầu, gây 2,74 triệu ca tử vong; là nguyên nhân hàng đầu thứ ba gây tử vong dưới 5 tuổi sau sinh non và bệnh não sơ sinh, chiếm 12,1% số ca tử vong ở nhóm tuổi này [48].
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, năm 2015, toàn cầu có 33,1 triệu người bị nhiễm virut hợp bào hô hấp gây NKHH dưới cấp tính. Trong đó 3,2 triệu nhập viện và khoảng 59600 trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [46]. Số lượng trẻ mắc và tử vong do NKHHCT tại mỗi quốc gia là khác nhau. Một nghiên cứu trong 5 năm (2011 - 2015) tại Ecuador ước tính có khoảng 14,84 triệu trường hợp bị NKHHCT.
Trong đó 17757 trường hợp tử vong, chủ yếu tập trung ở người trên 60 tuổi và trẻ dưới 5 tuổi (99%) [36]. Tại Đức, theo dõi 1314 trẻ trong vòng 12 năm cho thấy rằng 1 trẻ sẽ trải qua 4 – 11 đợt bệnh hô hấp/ năm. Tại Vương quốc Anh, tỷ lệ mắc NKHH dưới là 30/1000 trẻ [34]. Theo nghiên cứu kiểm soát trường hợp trẻ em <5 tuổi ở gia đình có thu nhập thấp được thực hiện ở Buenos Aires, Argentina của Caballero và các cộng sự năm 2019, để xác định các yếu tố nguy cơ và mầm bệnh virus ở những trẻ tử vong vì ARI tại nhà.
Tổng cộng có 278 gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi (trong đó 104 người chết và 174 người khỏe mạnh) tham gia nghiên cứu. Tổng cộng có 87,5% trường hợp tử vong liên quan đến ARI xảy ra ở trẻ sơ sinh <12 tháng.