Đặt vấn đề Hiện nay Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt là ngành phát triển cây dược liệu đóng vai trò quan trọng cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến thuốc chữa bệnh đồng thời là nhân tố chính góp phần vào việc xuất khẩu. Ở nước ta, khí hậu thời tiết rất thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có nhiều loại thuốc chữa bệnh. Kết quả điều tra khảo sát được của các nhà nghiên cứu đa ngành khác nhau cho biết, Việt Nam có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú và đa dạng với 3948 cây làm thuốc và nhu cầu sử dụng dược liệu vào khoảng 50. Chúng được phân bố rộng khắp cả nước.
Nhiều vùng và tỉnh có cây thuốc với số loài và trữ lượng lớn. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chiết xuất ra hàng loạt các chất để sản xuất thuốc từ nguồn dược liệu. Bên cảnh những cây thuốc bản địa, thuốc nam thì những cây thuốc quý được di thực, nhập nội từ nước ngoài về được phát triển trồng trọt trong nước đã và đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển dược liệu của ngành dược. Tuy nhiên trong việc trồng trọt phát triển sản xuất dược liệu tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc còn gặp nhiều khó khăn, các loài sâu bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây thuốc đang phát triển đại trà.
Mặc dù điều kiện thời tiết nước ta thuận lợi cho sự phát triển của cây dược liệu, nhưng cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều sâu bệnh phát triển gây hại nghiêm trọng. Cũng như các loại cây trồng khác, cây dược liệu thường bị các loài sâu hại tấn công gây hại mạnh. Có nhiều nơi, nhiều lúc cây thuốc đã bị sâu bệnh gây hại đến thất thu hoặc thu hoạch cũng cho năng suất không cao và chất lượng không được đảm bảo. Nghiên cứu về BVTV đối với cây dược liệu của ngành dược nói riêng và trong nước nói chung vẫn còn hạn chế, ít tài liệu, chưa đi sâu vào tình hình diễn 1 biến gây hại của loài sâu hại.
Do đó việc xác định thành phần sâu bệnh hại, tình hình phát sinh phát triển của dịch hại chính trên đồng ruộng có ý nghĩa rất lớn làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) nhằm ngăn chặn sự phá hại của sâu bệnh Sâu khoang Spodoptera litura Fabricius là loài sâu đa thực có thể phá hoại đến 290 loài cây trồng thuộc 99 họ thực vật. Ở Việt Nam, trên cây dược liệu trong thời gian gần đây đặc biệt là trên Bồ Công Anh và Mã Đề ghi nhận sâu khoang gây hại khá nghiêm trọng, Tuy sự gây hại của nó không thường xuyên nhưng sức ăn của sâu non rất lớn. Sâu non tuổi nhỏ tập trung thành từng đám gặm ăn lá, khi sâu lớn ăn thủng lá và có thể cắn trụi hết lá, cành hoa, trục quả. Đặc biệt khi phát sinh thành dịch chúng gây thiệt hại đáng kể cho cây cây dược liệu.
Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái; thành phần cây ký chủ của sâu khoang trở nên cấp thiết để từ đó đề xuất các nghiên cứu về quản lý và phòng chống chúng. Trên cơ sở đó, dưới sự phân công của Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học và sự hướng dẫn của PGS. Lê Ngọc Anh, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng gây hại của sâu khoang Spodoptera litura (Fabricius) trên cây dược liệu năm 2021 tại Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu.
Mục đích Trên cơ sở điều tra cây ký chủ của sâu khoang; diễn biến mật độ sâu khoang trên bồ công anh; nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu khoang Spodoptera litura, từ đó xác định được mức độ gây hại của sâu khoang trên cây dược liệu đề xuất các biện pháp phòng chống sâu hại trên các loại cây dược liệu một cách hợp lí và hiệu quả nhất 1.2 Yêu cầu 2 Điều tra diễn biến mật độ sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) trên cây bồ công anh tại Trung tâm trồng và chế biến cây thuốc Hà nội- huyện thanh trì – Hà Nội và các vùng lân cận. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu khoang Spodoptera litura (Fabricius) dưới các chế độ thức ăn và nhiệt độ khác nhau. Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu khoang Spodoptera litura (Fabricius) của một số thuốc BVTV. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.
Tình hình nghiên cứu và sản xuất cây dược liệu a. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua. Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế.
Theo Ban Thư ký Công ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm dược thảo ước tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trường Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình. Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau. Thường tập trung ở các đơn vị tỉnh hoặc cho một hướng tác dụng điều trị nào đó như điều tra cây thuốc có tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn. Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc.
Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543. Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc. Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại.
Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt. Hiện 4 nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100-250 loài ở Trung Quốc, 40 ở Hungari, 130-140 ở Châu Âu. Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này. May thay, những vấn đề này đã được cộng đồng thế giới quan tâm.
Năm1993 WHO (Tổ chức Y tế thế giới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hành các hướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sự cam kết của các tổ chức. Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tương đồng với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây thuốc(VBTCT) là các quốc gia như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc và Ấn Độ , Ai Cập, Nam Phi (Ricupero (1998).500 loài thực vật có hoa được tìm thấy, hơn 1600 loài được sử dụng trong hệ thống y học cổ truyền (Uniyal & cs. Sự hồi sinh của hệ thống y học cổ truyền ở Ấn Độ và nước ngoài đã gây ảnh hưởng lớn lên các khu rừng, đặc biệt là các loại cây thuốc. Sự suy thoái môi trường sống, khai thác không khoa học và khai thác quá mức để đáp ứng nhu cầu buôn bán trái phép cây thuốc đã dẫn đến sự tuyệt chủng của hơn 150 loài thực vật trong tự nhiên (Uniyal & cs.
Trong quá trình điều tra hiện tại, tổng số 335 loài cây thuốc từ vùng xuyên Himalaya của Ấn Độ và được các bác sĩ sử dụng để chữa các bệnh khác nhau đã được khảo sát. Các loài cây thuốc này phân bố trên 55 họ. Asteraceae là họ chiếm ưu thế nhất, có 71 loài thực vật làm thuốc, tiếp theo là Lamiaceae 25 loài, Ranunculaceae 23 loài, Brassicaceae 17 loài và Fabaceae 17 loài (Kala & Management, 2006). Trong tổng số họ, có 14 họ sở hữu một loài cây thuốc và 12 họ chỉ sở hữu 2 loài cây thuốc.
Trong số những cây thuốc này, 45 cây được xếp vào danh mục bị đe dọa theo Sách Đỏ về Thực vật Ấn Độ, hội thảo CAMP và các 5 tài liệu hiện có khác. Trong số 45 loài cây thuốc quý hiếm, có 8 loài cực kỳ nguy cấp, 7 loài nguy cấp, 9 loài dễ bị tổn thương, 7 loài quý hiếm, 2 loài có nguy cơ thấp hoặc gần bị đe dọa và 1 loài có nguy cơ thấp, theo hội thảo của CAMP (Samant & cs., 2007) và Sách Đỏ về Thực vật Ấn Độ. Các bộ phận thực vật sau đây được sử dụng để bào chế thuốc: hoa, quả, rễ, củ, vỏ, thân và lá. Phân tích chỉ ra rằng lá được sử dụng phổ biến nhất (103 loài), tiếp theo là hoa (83 loài), rễ (80 loài), chồi 79 loài), hạt (21 loài) và quả (17 loài) (Kala & Management, 2006).
Toàn bộ cây gồm 33 loài đã được Amchis sử dụng cho mục đích chữa bệnh. Ngoài thực vật bậc cao, các loài thực vật bậc thấp, chẳng hạn như địa y cũng được Amchis sử dụng. Ví dụ, một số loại địa y đã được trộn với các thành phần khác để chữa sốt mãn tính và ngộ độc. Ở Ả Rập, Bán đảo Sinai là một trong những nơi có nguồn cây thuốc quan trọng.
Cây thuốc dùng để chỉ các loài có tầm quan trọng về dược liệu (kể cả thú y), thơm và ẩm thực. Việc phân phối, sử dụng trong y học dân gian và các thành phần hoạt tính của cây thuốc ở Sinai đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà sinh thái học, nhà phân loại học và nhà hóa thực vật (El-Wahab & cs. Điều kiện môi trường và tác động của con người có ảnh hưởng đáng kể đến sự đa dạng và phân bố của các loài thực vật bị đe dọa, đặc hữu và làm thuốc (Moustafa & cs.