Chương I NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THÂM QUYEN SƠ THÂM DAN SU CUA TOA AN THEO LANH THO 1. KHÁI NIEM VA Ý NGHĨA CUA VIỆC QUY ĐỊNH THAM QUYEN SƠ THÁM DAN SU CUA TOA AN THEO LANH THO. Khái niệm về tham quyền sơ thâm dân sự của Toà án theo lãnh tho. Khái niệm thấm quyền gắn liền với chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước.
Thâm quyền của cơ quan nhà nước không chỉ xác định phạm vi hoạt động của từng cơ quan mà còn phân định thâm quyền giữa các cơ quan Nhà nước trong bộ máy nhà nước. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp thì Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp chủ yếu. Tòa án thực hiện thâm quyền của mình trong việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật để bảo vệ pháp luật, bảo đảm sự công bằng xã hội. Việc quy định hợp lý về thâm quyền sơ thâm đân sự của Toà án nói chung và thấm quyền sơ thấm dân sự của Toà án theo lãnh thé nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện được quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, chúng ta cần nghiên cứu làm rõ ban chất, đặc điểm của thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Toà án theo lãnh thé dưới góc nhìn học thuật nhằm phân biệt với các khái niệm khác như thẩm quyền sơ thâm dân sự của Toà án, thẩm quyền sơ thấm dân sự của Toà án theo loại việc, theo cấp Toà án. Để đạt được mục đích này, việc nghiên cứu sẽ lần lượt tiếp cận và làm rõ khái niệm thẩm quyền, thẩm quyền sơ thâm dân sự và thẩm quyền sơ thâm dân sự của Toà án theo lãnh thổ. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Thẩm quyên là xem xét để kết luận và định đoạt một vấn dé theo pháp luật ” [26, tr. Theo Từ điển luật học của Mỹ thì thẩm quyền được hiểu là một khả năng cơ bản và tối thiếu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật [27, tr.
Theo từ điển Luật học thì thâm quyền là “ téng hợp các quyên và nghĩa vụ hành động, quyét định của cơ quan, t6 chức thuộc hệ thong bộ máy nhà nước do pháp luật quy dink’ [12, tr. Trong tiếng Anh thuật ngữ “Jurisdition” được dùng dé chỉ thâm quyền hoặc quyền tài phán của Toà án [28, tr. Theo Lenmeiunier, tác giả cuốn từ điển pháp luật thì thầm quyền của Toà án được hiểu là “khả năng của một Toà án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép” [29, tr. Tién sỹ Nguyễn Đức Mai cho rang: “Thẩm quyén của Toà án là một thể thống nhất bao gôm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyên hình thức và thẩm quyên về nội dung.
Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Toà án đối với những van dé đã được xem xét” [11, tr. Theo quy định tại Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân địa phương, các Toa quan sự và các Toà an khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [6]. Trên cơ sở quy định nay của Hiến pháp, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đã quy định cụ thể là Toà án nhân dân có thâm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Toà án có quyền ban hành bản án và các quyết định, được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thông qua hệ thống cơ quan thi hành án án dân sự.
Từ những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm về thâm quyền của Toà án như sau: Thâm quyên của Toà án là quyên của Toà án trong việc xem xét, giải quyét vụ án hình sự, các vụ việc dân sự, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật và quyển han trong việc ra bản án, quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Theo từ điển tiếng Việt thì “sơ thâm” là xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp nhất [25, tr. Còn theo cuốn “Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng” thì “sơ thẩm là việc Toà án xét xử lan dau một vụ án” [10. Như vậy, có thé rút ra khái niệm về thâm quyền sơ thẩm của Toà án như sau: Thâm quyền sơ thâm của Toà án là quyền của Toà án trong việc xem xét, giải quyết vụ án hình sự, các vụ việc dân sự, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật và quyền han trong việc ra bản án, quyết định khi lần đầu tiên giải quyết vụ việc đó.
Trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động thì thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án là quyền của Toà án trong việc xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự được pháp luật quy định [24, tr. Tham quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án được tiếp cận dưới ba góc độ là thâm quyền sơ thâm theo loại việc, thâm quyền sơ thâm của Tòa án các cấp và thấm quyền sơ thâm của Tòa án theo lãnh thé. Theo đó, thẩm quyền sơ thâm dân sự của Tòa án theo loại việc là thấm quyền chung của Tòa án trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự. Tham quyén SO thâm dân sự của Tòa án các cấp là thẩm quyền của một cấp Toà án nao đó (cấp huyện, cấp tỉnh) trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự.
Tham quyền sơ thâm dan sự của Tòa án theo lãnh thé là thẩm quyền của một Tòa án xác định trong việc giải quyết một vụ việc dân sự cụ thê. Dé xác định một vụ việc dân sự thuộc tham quyền giải quyết của một Toà án cụ thé nào, đầu tiên, người ta phải xác định vụ việc đó có thuộc thẩm quyền sơ thâm dân sự của Toà án theo loại việc hay không, sau đó căn cứ vào luật thực 10 định để xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ thâm của Toà án cấp nào và bước sau cùng là xác định trong số các Toà án cùng cấp đó thì Toà án lãnh thé nao sẽ có thấm quyền giải quyết. Như vậy, việc xác định thâm quyền sơ thâm dân sự của Toà án theo loại việc và thâm quyển sơ thâm dân sự của Toà án các cấp là nền tang hay tiên dé dé xác định tham quyền sơ thẩm dân sự của Toà án theo lãnh thé. Việc nghiên cứu cho thấy, thâm quyền sơ thâm dân sự của Toà án theo loại việc được xác định trên cơ sở các quan hệ pháp luật nội dung có cùng tính chất mà Toà án phải xem xét giải quyết.
Theo đó, các vụ việc phát sinh từ các quan hệ về tài sản hay quan hệ nhân thân giữa các chủ thé sẽ thuộc thẩm quyển sơ thâm dân sự của Toa án. Trong khi đó, thâm quyền sơ thâm dan sự của Toà án các cấp là thâm quyền của các cấp Toà án trong việc xem xét giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyển sơ thâm dân sự của Toà án theo loại việc, dựa trên tính chất phức tạp hay đơn giản của vụ việc dân sự cũng như điều kiện giải quyết vụ việc của các cấp Toà án. Ở Việt Nam hiện nay, dựa theo dấu hiệu này thì sự phân định giữa thâm quyền sơ thầm dân sự của Toà án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, có lẽ đây không phải là vấn dé mang tính bất bién ma có thé sẽ thay đối tuỳ theo quan niệm của nhà lập pháp.
Việc nghiên cứu cho thấy, các giáo trình về luật tố tụng dân sự của các cơ sở đào tạo luật cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thé về thâm quyền sơ thâm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ. Có ý kiến cho rằng “Thẩm quyên giải quyết tranh chấp dân sự theo lãnh thé của Toà án là quyên của một Toà án cụ thé trong hệ thống Toà án được thực hiện thủ tục giải quyết một tranh chấp dân sự cụ thể theo quy định của pháp luát` [8, tr. Xét trong thực tiễn lập pháp, thì thuật ngữ thâm quyển sơ thâm dân sự của Toà án theo lãnh thổ đôi khi được sử dụng dưới một cái tên khác là thẩm quyền 1] của Toa án theo quan hạt, tham quyền của Toà án theo don vị hành chính lãnh thổ hay thâm quyền của Toà án theo phạm vi lãnh thô. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, trên thế giới cách thức tổ chức Toà án có thê theo đơn vị hành chính lãnh thô hoặc không theo đơn vị hành chính lãnh thé.
Điều này phụ thuộc vào truyền thống, lịch sử và ý chí của nhà lập pháp mỗi nước. Dưới góc nhìn lý luận, có thể nhận xét rằng, thâm quyên sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thé được xác định không phải dựa trên dau hiệu về tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp hay tính chất phức tạp hay đơn giản của vụ việc dân sự, điều kiện giải quyết vụ việc của các cấp Toà án mà dựa trên những dau hiệu riêng, làm cơ sở dé phân định thâm quyền sơ thâm dân sự giữa các Toà án cùng cấp với nhau đối với một vụ việc dân sự cụ thể. Thông thường, thâm quyền sơ thâm dân sự của Tòa án theo lãnh thé được xác định dựa trên những dau hiệu sau đây: - Dấu hiệu về nơi cư trú hoặc noi có trụ sở của một trong các bên đương sự, - Dấu hiệu về nơi có tài sản tranh chấp; - Dấu hiệu về nơi phát sinh sự kiện như nơi đăng ký kết hôn, nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, nơi thực hiện hợp đồng. - Dấu hiệu về nơi mà các bên thoả thuận lựa chọn giải quyết vụ việc phát sinh hoặc theo y chí của bên có yêu cầu đã được nhà lập pháp ấn định.