Tham nhũng và Phòng chống tham nhũng dưới thời Lê - Trịnh (1599-1786) - Nghiên cứu của ĐH Đà Nẵng

Khám phá thực trạng tham nhũng thời Lê Trịnh, nguyên nhân và các biện pháp phòng chống. Cái nhìn toàn diện về một vấn nạn lịch sử của Việt Nam.

Chuyên ngành

Sư phạm Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của đề tài

Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỜI LÊ - TRỊNH VÀ HIỆN TƯỢNG THAM NHŨNG TRƯỚC THỜI LÊ - TRỊNH

1.1. Tổng quan về thời Lê - Trịnh

1.1.1. Tình hình chính trị

1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

1.1.3. Tình hình văn hoá - tư tưởng

1.2. Khái niệm tham nhũng

1.3. Khái quát về hiện tượng tham nhũng và phòng chống tham nhũng trước thời Lê - Trịnh

1.3.1. Thời Lý - Trần - Hồ

1.3.2. Thời Lê sơ - Mạc

2. CHƯƠNG II: HIỆN TƯỢNG THAM NHŨNG DƯỚI THỜI LÊ - TRỊNH (1599 - 1786)

2.1. Biểu hiện của tham nhũng dưới thời Lê - Trịnh

2.1.1. Trên phương diện chính trị

2.1.1.1. Trong tuyển lính, quản lý quân đội
2.1.1.2. Trong tuyển dụng quan lại
2.1.1.3. Trong quản lý địa phương

2.1.2. Trên phương diện kinh tế

2.1.2.1. Tham nhũng trong thu thuế
2.1.2.2. Chiếm đoạt ruộng đất công
2.1.2.3. Ẩn lậu ruộng đất

2.1.3. Trên phương diện giáo dục

2.1.3.1. Ức hiếp sĩ tử lấy tiền bạc
2.1.3.2. Lấy tiền chấm đỗ, lấy đỗ bừa bãi
2.1.3.3. Nhận tiền cho người làm bài thay

2.2. Hệ quả của nạn tham nhũng thời Lê - Trịnh

2.3. Nhận xét chung

3. CHƯƠNG III: CHÍNH QUYỀN LÊ - TRỊNH VỚI VIỆC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG (1599 -1786)

3.1. Các biện pháp phòng chống tham nhũng dưới thời Lê - Trịnh

3.1.1. Trừng trị các hành vi tham nhũng

3.1.2. Giáo dục phẩm chất đạo đức cho quan lại theo tư tưởng Nho giáo

3.1.3. Ban hành các điều lệ

3.1.4. Biểu dương và hậu thưởng cho những quan lại thanh liêm

3.1.5. Chính sách tuyển bổ, sử dụng, đãi ngộ quan lại rõ ràng, hợp lý

3.1.6. Tăng cường hoạt động của cơ quan giám sát thời Lê - Trịnh

3.2. Một số nhận xét

3.3. Bài học kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Bối Cảnh Tham Nhũng Thời Lê Trịnh 55 Ký Tự

Thời Lê Trịnh (1599-1786) là giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam, với chế độ "Lưỡng đầu chế" – vua Lê trên danh nghĩa, chúa Trịnh nắm thực quyền. Sự tồn tại song song của hai hệ thống chính quyền này, vừa dựa vào nhau để trị nước, vừa mâu thuẫn về quyền lực và quyền lợi, tạo điều kiện cho tham nhũng nảy sinh và phát triển. Tình hình chính trị bất ổn, kinh tế suy thoái, và xã hội phân hóa sâu sắc đã làm gia tăng các hành vi tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Việc nghiên cứu về tham nhũng thời Lê Trịnh có ý nghĩa quan trọng để hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công cuộc phòng chống tham nhũng hiện nay. Theo Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Sư phạm, Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Phương Hồng đã nghiên cứu rất chi tiết về chủ đề này. Tác giả đã phân tích bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, biểu hiện và hệ quả của tham nhũng dưới thời Lê-Trịnh, đồng thời đề xuất một số giải pháp phòng chống.

1.1. Chế Độ Lưỡng Đầu Nguồn Gốc Bất Ổn Tham Nhũng

Chế độ “Vua Lê – Chúa Trịnh” tạo ra sự phân chia quyền lực phức tạp và mập mờ. Vua Lê chỉ mang tính tượng trưng, trong khi chúa Trịnh nắm mọi quyền hành. Sự chồng chéo và phân tán quyền lực này tạo ra kẽ hở cho quan lại lạm dụng chức vụ, câu kết với nhau để trục lợi. Các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực, dẫn đến nội chiến và tình trạng cát cứ, càng làm gia tăng tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Theo Phan Huy Chú, quyền hành về hết phủ Chúa, nhà vua chỉ mang hư danh ở trên. Sự chuyên quyền của họ Trịnh tạo điều kiện cho tham nhũng lan rộng và khó kiểm soát.

1.2. Kinh Tế Suy Thoái Mảnh Đất Màu Mỡ Cho Tham Nhũng

Chiến tranh liên miên, thiên tai, mất mùa khiến kinh tế suy thoái nghiêm trọng. Nông nghiệp bị tàn phá, ruộng đất bị chiếm đoạt, thuế má nặng nề đè lên vai người dân. Tình trạng đói nghèo lan rộng, tạo điều kiện cho quan lại lợi dụng chức vụ để tham nhũng, vơ vét của cải. Sự phát triển của kinh tế hàng hóa và quan hệ tiền tệ cũng góp phần thúc đẩy tham nhũng, khi đồng tiền chi phối các hoạt động xã hội và đạo đức quan lại suy thoái. Theo Bùi Sĩ Tiêm, ruộng đất bị cường hào chiếm, dân nghèo chỉ được những mảnh cằn cỗi. Tình trạng này tạo điều kiện cho tham nhũng trong quản lý ruộng đất và thu thuế.

II. Biểu Hiện Cụ Thể Tham Nhũng Thời Lê Trịnh 57 Ký Tự

Tham nhũng thời Lê Trịnh biểu hiện đa dạng trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến giáo dục. Trong lĩnh vực chính trị, tham nhũng thể hiện qua việc tuyển lính, quản lý quân độituyển dụng quan lại. Trong lĩnh vực kinh tế, tham nhũng diễn ra trong việc thu thuế, chiếm đoạt ruộng đấtẩn lậu ruộng đất. Trong lĩnh vực giáo dục, tham nhũng thể hiện qua việc ức hiếp sĩ tử, lấy tiền chấm đỗnhận tiền cho người làm bài thay. Các hành vi tham nhũng này gây thiệt hại lớn cho nhà nước và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân. Sự tha hóa của quan lại trở thành một vấn nạn nhức nhối trong xã hội đương thời.

2.1. Tham Nhũng Chính Trị Tuyển Lính Quản Quân Bổ Nhiệm

Trong tuyển línhquản lý quân đội, quan lại lợi dụng chức vụ để nhũng nhiễu, ăn hối lộ, tiêu lạm công quỹ. Trong tuyển dụng quan lại, tình trạng mua quan bán tước diễn ra phổ biến, khiến cho bộ máy nhà nước đầy rẫy những kẻ bất tài vô đức. Việc này làm suy yếu sức mạnh quân đội và làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Như năm 1664, Trịnh Bách và Trịnh Sâm cùng làm đề lĩnh, không biết cấm giữ thủ hạ, thả sức nhũng tệ, ăn đút vàng bạc.

2.2. Tham Nhũng Kinh Tế Thu Thuế Chiếm Đất Ẩn Lậu

Trong thu thuế, quan lại sách nhiễu dân nghèo, thu thuế quá quy định, bỏ túi riêng. Tình trạng chiếm đoạt ruộng đất công diễn ra phổ biến, khiến cho nông dân mất đất canh tác, rơi vào cảnh bần cùng. Bọn địa chủ và quan lại còn ẩn lậu ruộng đất để trốn thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Phạm Gia Huệ phụng mạng đi thu thuế phủ Bắc Hà, thu lạm của dân hơn hai ngàn quan tiền. Tình trạng tham nhũng này làm suy yếu nền kinh tế và gây bất bình trong dân chúng.

2.3. Tham Nhũng Giáo Dục Tiền Bạc Quyết Định Bằng Cấp

Trong lĩnh vực giáo dục, quan lại ức hiếp sĩ tử, lấy tiền chấm đỗ, nhận tiền cho người làm bài thay, làm tha hóa nền giáo dục. Việc này làm mất đi tính công bằng của thi cử, khiến cho những người tài giỏi không có cơ hội phát triển. Thậm chí Đô cấp sự Nguyễn Quí Thành làm giám thị trường Phụng Thiên, phạm tội làm sẵn bài thi bí mật gà cho sĩ tử. Tình trạng tham nhũng này làm suy đồi đạo đức xã hội và làm mất đi niềm tin vào hệ thống giáo dục.

III. Phân Tích Nguyên Nhân Vì Sao Tham Nhũng Thời Lê Trịnh 56 Ký Tự

Tham nhũng thời Lê Trịnh có nhiều nguyên nhân sâu xa, bao gồm yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và đạo đức. Về mặt chính trị, chế độ "Lưỡng đầu chế" tạo ra sự phân chia quyền lực phức tạp và mập mờ, tạo kẽ hở cho quan lại lạm dụng chức vụ. Về mặt kinh tế, tình trạng suy thoái và bất bình đẳng làm gia tăng tham nhũng. Về mặt xã hội, đạo đức quan lại suy thoái, chạy theo lợi ích cá nhân. Về mặt pháp luật, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, không đủ sức răn đe quan lại tham nhũng. Nhìn chung, các nguyên nhân này tác động lẫn nhau, tạo ra một môi trường thuận lợi cho tham nhũng phát triển.

3.1. Thiếu Minh Bạch Quyền Lực Kẽ Hở Cho Tham Nhũng

Sự phân chia quyền lực giữa vua Lê và chúa Trịnh không rõ ràng, tạo ra kẽ hở cho quan lại lạm dụng chức vụ. Thiếu sự kiểm soát và giám sát quyền lực hiệu quả, khiến cho quan lại dễ dàng tham nhũng mà không sợ bị trừng phạt. Sự lỏng lẻo của kỷ luật và pháp luật cũng tạo điều kiện cho quan lại tham nhũng một cách công khai. Do vua chỉ là hữu danh, chúa nắm thực quyền.

3.2. Đạo Đức Quan Lại Suy Thoái Ưu Tiên Lợi Ích Cá Nhân

Đạo đức quan lại suy thoái nghiêm trọng, chạy theo lợi ích cá nhân và vật chất. Nhiều quan lại chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền và thăng quan tiến chức, mà không quan tâm đến lợi ích của đất nước và nhân dân. Tình trạng này làm suy yếu bộ máy nhà nước và làm gia tăng tham nhũng. Theo Nguyễn Duy Thì, các quan lại đua nhau xa xỉ, làm khổ dân.

3.3. Luật Pháp Bất Cập Không Đủ Sức Răn Đe Tham Nhũng

Hệ thống pháp luật thời Lê Trịnh còn nhiều bất cập, không đủ sức răn đe quan lại tham nhũng. Các hình phạt chưa đủ nghiêm khắc và việc thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, khiến cho quan lại không sợ hãi và tiếp tục tham nhũng. Cần phải có một hệ thống pháp luật nghiêm minh và hiệu quả để ngăn chặn tham nhũng.

IV. Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng Thời Lê Trịnh 60 Ký Tự

Chính quyền Lê Trịnh đã thực hiện một số biện pháp để phòng chống tham nhũng, bao gồm trừng trị các hành vi tham nhũng, giáo dục phẩm chất đạo đức cho quan lại, ban hành các điều lệ, biểu dương quan lại thanh liêm, và tăng cường hoạt động của cơ quan giám sát. Tuy nhiên, các biện pháp này chưa đủ mạnh và chưa mang lại hiệu quả cao, do tham nhũng đã ăn sâu vào bộ máy nhà nước. Cần phải có những biện pháp quyết liệt và đồng bộ hơn để đẩy lùi tham nhũng.

4.1. Trừng Trị Nghiêm Khắc Răn Đe Quan Lại Tham Nhũng

Chính quyền Lê Trịnh đã trừng trị một số quan lại tham nhũng bằng các hình phạt như cách chức, phạt tiền, thậm chí là tử hình. Tuy nhiên, việc trừng trị chưa đủ nghiêm khắc và chưa đủ sức răn đe quan lại khác. Cần phải có những hình phạt nặng hơn và thực thi một cách nghiêm minh để ngăn chặn tham nhũng. Dù trừng phạt nhưng vẫn còn rất nhiều kẽ hở.

4.2. Đề Cao Đạo Đức Giáo Dục Quan Lại Về Liêm Khiết

Chính quyền Lê Trịnh đã chú trọng đến việc giáo dục phẩm chất đạo đức cho quan lại, đề cao các giá trị như liêm khiết, chính trực, cần kiệm. Tuy nhiên, việc giáo dục chưa mang lại hiệu quả cao, do nhiều quan lại chỉ coi trọng lợi ích cá nhân. Cần phải có những biện pháp giáo dục hiệu quả hơn và tạo ra một môi trường xã hội đề cao đạo đức.

4.3. Tăng Cường Giám Sát Kiểm Soát Quyền Lực Quan Lại

Chính quyền Lê Trịnh đã tăng cường hoạt động của các cơ quan giám sát, như Ngự sử đài, để kiểm soát quyền lực quan lại. Tuy nhiên, các cơ quan này chưa đủ mạnh và chưa đủ độc lập, khiến cho việc giám sát không hiệu quả. Cần phải có những cơ quan giám sát độc lập và có quyền lực thực sự để kiểm soát tham nhũng.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Tham Nhũng Thời Lê Trịnh 52 Ký Tự

Nghiên cứu về tham nhũng thời Lê Trịnh giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho công cuộc phòng chống tham nhũng hiện nay. Cần phải xây dựng một hệ thống chính trị minh bạch và trách nhiệm, tăng cường kiểm soát quyền lực, đề cao đạo đức công vụ, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường sự tham gia của xã hội vào công cuộc phòng chống tham nhũng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể đẩy lùi tham nhũng và xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

5.1. Minh Bạch Quyền Lực Quan Trọng Nhất Trong Phòng Chống

Cần phải xây dựng một hệ thống chính trị minh bạch và trách nhiệm, đảm bảo rằng quyền lực được kiểm soát và sử dụng một cách hợp lý. Việc này bao gồm việc công khai hóa thông tin, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định, và xây dựng các cơ chế giải trình trách nhiệm hiệu quả.

5.2. Đạo Đức Công Vụ Nền Tảng Của Xã Hội Liêm Khiết

Cần phải đề cao đạo đức công vụ, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức liêm khiết, chính trực và tận tâm với công việc. Việc này bao gồm việc giáo dục đạo đức, xây dựng văn hóa liêm chính, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức.

5.3. Pháp Luật Nghiêm Minh Răn Đe Xử Lý Tham Nhũng Triệt Để

Cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo rằng các hành vi tham nhũng được xử lý một cách nghiêm minh và triệt để. Việc này bao gồm việc xây dựng các quy định pháp luật rõ ràng, tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật, và bảo vệ người tố cáo tham nhũng.

VI. Kết Luận Hướng Đến Một Xã Hội Không Tham Nhũng 50 Ký Tự

Tham nhũng thời Lê Trịnh là một bài học đắt giá về những hệ lụy của sự tha hóa quyền lực và đạo đức. Để xây dựng một xã hội không tham nhũng, chúng ta cần phải học hỏi từ lịch sử, đồng thời không ngừng đổi mới và hoàn thiện các biện pháp phòng chống tham nhũng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ và công bằng.

6.1. Học Hỏi Từ Lịch Sử Không Lặp Lại Sai Lầm Quá Khứ

Nghiên cứu về tham nhũng trong lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hệ quả của tham nhũng, từ đó tránh lặp lại những sai lầm trong quá khứ.

6.2. Đổi Mới Liên Tục Đáp Ứng Thách Thức Mới Của Tham Nhũng

Các hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi và phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện các biện pháp phòng chống tham nhũng, đáp ứng những thách thức mới.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỜI LÊ - TRỊNH VÀ HIỆN TƯỢNG THAM NHŨNG TRƯỚC THỜI LÊ - TRỊNH 1. Tổng quan về thời Lê - Trịnh 1. Tình hình chính trị Sau giai đoạn phát triển cực thịnh dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), sang thế kỷ XVI, triều Lê ngày càng suy thoái và dần mất đi vai trò lịch sử, các cuộc đấu tranh giữa các tập đoàn phong kiến nhằm mục đích tranh giành quyền lực lẫn nhau, đã gây nên những cuộc nội chiến kéo dài, đất nước bị phân chia thành những tập đoàn phong kiến khác nhau. Cuộc đấu tranh giành quyền lực của 3 dòng họ Mạc - Trịnh - Nguyễn đã đẩy Việt Nam vào một giai đoạn lịch sử rất phức tạp và hỗn loạn.

Năm 1592, sau khi củng cố lực lượng quân Nam triều đã mở cuộc tấn công quyết định vào Thăng Long và giành thắng lợi. Triều Mạc sụp đổ. Cục diện Nam - Bắc triều về cơ bản đã chấm dứt. Nước Đại Việt đã hình thành cục diện một chế độ hai chính quyền và một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong chế độ phong kiến Việt Nam với cơ chế “Vua ngồi ngai vàng, chúa nắm thực quyền”.

Lịch sử gọi là “thời kỳ Lê - Trịnh”. Sau khi dẹp xong cuộc phản kháng của tàn dư họ Mạc, uy quyền ngày càng cao, Trịnh Tùng ép vua Lê phải phong cho mình làm Đô Nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương vào năm Ất Mùi (1599), tức là người nắm giữ mọi quyền hành trong nước [23, tr. Với chức tước được phong, Trịnh Tùng ngày càng có nhiều cơ hội để thâu tóm mọi quyền hành, Trịnh Tùng được phép thành lập vương phủ, đặt các chức tham tụng, bồi tụng. để giúp mình cai trị đất nước.

Mặc dù triều đình vẫn có vua và các bộ, viện nhưng vua Lê Thế Tông đã ủy quyền cho chúa Trịnh trong việc cai quản đất nước bằng việc ban cho chúa Trịnh những vật tượng trưng cho uy quyền tối cao như chén ngọc, cờ lông, bút vàng, của cải, thuế má, nhân dân, được quyền tuyển bổ quan lại và được hưởng tước vương cha truyền con nối. Cho nên, vua chỉ là bù nhìn và quyền hành ngày càng bị rút bớt, 13 mọi chi tiêu đều dựa vào bổng lộc do chúa định.Và như vậy, họ Trịnh bắt đầu thế tập tước vương, hình thành chế độ vua Lê - chúa Trịnh, đất nước danh nghĩa có hai người đứng đầu nhưng thực chất do chúa Trịnh cai quản. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: “Nhà Lê từ thời trung hưng về sau, chúa Trịnh chuyên nắm giữ chính sự, quyền hành về hết phủ Chúa, nhà vua chỉ mang hư danh ở trên, gọi là còn phân vị chỉ có khác ở màu áo mặc và nghi vệ mà thôi” [2, tr. Chính quyền trung ương của triều Lê - Trịnh vẫn dựa theo triều Lê sơ trước đó, cụ thể là thời Hồng Đức với 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công).

Ở mỗi bộ đều có một thượng thư cùng hai viên Tả hữu thị lang chịu trách nhiệm chung và một cơ quan thường trực gọi là Vụ tư sảnh. Tuy nhiên, tuỳ vào mức độ công việc ở từng bộ, mỗi bộ sẽ có một hoặc vài cơ quan chuyên trách riêng, cơ quan giám sát như Lục khoa sẽ làm nhiệm vụ kiểm soát công việc của từng bộ theo chuyên môn còn Ngự sử đài giữa nhiệm vụ kiểm soát tất cả các cơ quan và các quan về nhiệm vụ chung. Sau đó, khi được phép lập phủ Chúa, họ Trịnh bắt đầu đặt ra một hệ thống tổ chức chính quyền ở phủ Chúa tương ứng với chính quyền sẵn có bên cung vua. Trước tiên, để bàn việc chính sự ở phủ Chúa, năm 1600, Trịnh Tùng đã đặt ra chức Tham tụng đảm đương công việc của Tể tướng.

Về phẩm thứ tuy chưa quy định, nhưng quyền lực của Tham tụng lại rất lớn, đều do chúa Trịnh tự tiến cử từ những viên Thượng thư hoặc Thị lang vào làm. “Từ đấy về sau, chính sự thuộc về phủ chúa” [23, tr. Ngoài ra, chúa Trịnh cho đặt thêm chức Bồi tụng cũng là chức vụ quan trọng được làm việc trong phủ chúa, còn lập ra sáu phiên ở phủ Chúa (Lại, Lễ, Hình, Công, Binh, Hộ) tương ứng với sáu bộ bên triều đình. Với vai trò, Lục phiên sẽ đảm trách hầu hết các công việc của Lục bộ.

Lục bộ chỉ có vai trò phối hợp Lục phiên để thực thi những công việc trước đây của mình. Và như vậy, tất cả mọi quyền hành quản lý đất nước thuộc về chúa Trịnh, vua Lê cùng toàn bộ triều đình chỉ có tính chất tượng trưng và hư danh. Cái thế đôi bên Hoàng gia - Vương phủ dựa vào nhau cùng tồn tại trở thành “cái thế bất dịch rồi” và “thời kỳ Lê trung hưng thực chất chỉ là thời kỳ chuyên quyền của họ Trịnh, ngai vàng vua Lê chỉ là một nhãn hiệu bên ngoài, một con cờ trong tay chúa Trịnh” [11, tr. 14 Tuy nhiên, sự tồn tại đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, nổi bật nhất vẫn là mâu thuẫn giữa những người đứng đầu hai hệ thống chính quyền: vua Lê và chúa Trịnh.

Bởi lẽ, chúa Trịnh muốn tập trung quyền lực vào tay của mình và dần dần xây dựng cho mình một hệ thống chính quyền phục vụ cho quyền lợi của tập đoàn phong kiến của mình, khống chế và kiểm soát bộ máy triều đình của vua Lê. Thực chất, thành lập được một cơ quan đầu não do Chúa đứng đầu đã xuất hiện và hoạt động biệt lập với triều đình vua Lê, đó là Vương phủ (phủ Chúa). Xét cho cùng, các chức Chưởng phủ sự, Thự phủ sự, Quyền phủ sự bên ngạch võ gọi là quan Ngũ phủ. Các chức Tham tụng và Bồi tụng bên ngạch văn gọi là quan Phủ liêu.

Quan Ngũ phủ và Phủ liêu đã họp thành một cơ quan của Nhà nước quân chủ trung ương gọi là Ngũ phủ quan liêu - một chính phủ tối cao đặt dưới sự điều khiển của chúa Trịnh. Tuy vậy, những viên quan giữ chức vụ trong Ngũ phủ phủ liêu như các quan Chưởng phủ, Thự phủ ở Ngũ phủ và Tham tụng ở quan liêu đều làm nhiệm vụ uốn nắn lòng Vua, bàn phép trị dân, chọn lựa quan lại, thẩm xét hình cơ, chế định tài chính, định lệ kiện tụng, hội kê đinh điền, làm đúng thưởng phạt, giữ đúng pháp lệnh. Trong quá trình lập ra Ngũ phủ phủ liêu cùng các cơ quan giúp việc (từ Tam phiên đến Lục phiên) là cả một quá trình thâu tóm quyền hành của họ Trịnh từ phía Cung Vua về phía Phủ Chúa. Triều đình vua Lê cuối cùng chỉ còn lại một vài chức quan hư hàm làm nhiệm vụ nghi thức.

Chúa Trịnh trên danh nghĩa chỉ được xưng vương tước và đứng đầu Ngũ phủ phủ liêu, nhưng thực tế chúa Trịnh đã nắm hết mọi quyền hành trong chính quyền nhà nước lúc bấy giờ. Suy cho cùng những thay đổi về một số chức quan trong hàng văn võ đại thành hình thành nên Ngũ phủ phủ liêu cùng với việc lập ra Lục phiên thời chúa Trịnh, điều này đã làm cho bộ máy chính quyền Nhà nước thời kỳ này cồng kềnh và phức tạp. Không những vậy, bộ máy chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa phương đòi hỏi phải có một đội ngũ quan chức đông đảo. Nhưng vì bộ máy nhà nước có phần cồng kềnh và phức tạp nên số lượng quan lại cũng được giảm bớt.

Mặc dù tinh giản về số lượng quan chức, nhưng bộ máy chính quyền Nhà nước đặt ra cồng kềnh (gồm nhiều phiên hiệu) làm cho số quan lại hư hàm (có đủ phẩm tước, 15 bổng lộc nhưng không hoạt động) tăng lên nhiều. Điều đó, đã làm cho bộ máy quan chức thời kỳ này mang nặng tính quan liêu sâu mọt. Với hậu quả đó, để tăng cường và bổ sung đội ngũ quan lại vào bộ máy chính quyền Nhà nước, nhà nước Lê - Trịnh đã cho mở rộng khoa cử, đặc biệt từ khi trở về Thăng Long (1593), khoa cử được duy trì đều đặn, những người đỗ đạt vào làm quan nhiều hơn. Hơn thế nữa, do thiếu hụt ngân sách trong chiến tranh ở thời kỳ này có tình trạng mở rộng việc mua bán quan tước.

Trịnh Cương có lệnh cho quân dân trong nước ai dâng thóc thì cho quan tước. Nhìn chung, ở thời kỳ này, thi cử vẫn được coi trọng và quy chế thi cử vẫn như trước, góp phần cung cấp quan lại chủ yếu và tin cậy cho chính quyền. Việc phục hồi, xây dựng đất nước,quản lý xã hội đòi hỏi vai trò của các quan lại xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”. Nhu cầu về quan lại trong thời bình và sau thời chiến là một nhân tố tác động tích cực đến thi cử thời Lê - Trịnh, do đó thi cử thời này được Nhà nước quan tâm, tăng cường.

Tình hình kinh tế - xã hội Gần như suốt hơn một thế kỷ, nhân dân Đàng Ngoài luôn luôn phải sống trong cảnh chiến tranh, loạn lạc. Nông nghiệp bị tàn phá nghiêm trọng, thêm vào đó, bọn cường hào địa chủ địa phương tìm cách chiếm đoạt ruộng công, ruộng của nông dân. Qua tờ khải của Bùi Sĩ Tiêm, chúng ta được biết công điền ở các làng xã sau khi cấp cho binh lính thì ruộng thừa để quân cấp cho nông dân không được bao nhiêu, đã vậy còn bị kẻ giàu có chiếm hầu hết đám ruộng màu mỡ, dân nghèo chỉ được những mảnh cằn cỗi, đầu thừa đuôi thẹo, nặng về thuế má, lai dịch. Xã trưởng, thôn hào kết thành bè đảng, lấy tiền công ăn tiêu, lúc thiếu thì trưng thu, quấy nhiễu dân.

Trước tình hình đó, năm 1664, nhà Lê - Trịnh đặt phép “Bình lệ” lập sổ thuế một lần rồi cứ theo đó mà thu, “sinh thêm không tính, chết đi không trừ”. Bọn cường hào địa chủ địa phương lại nhân đó hạch sách dân thường. Kết quả là năm 1711, phủ chúa phải ban hành lại phép quân điền, theo đó làng xã phải thu hồi hết ruộng công cầm số, những người đã có ruộng lộc, ruộng tư (của vợ hay chồng) đủ mức đều không được cấp ruộng công, việc phân cấp phải thực hiện theo quy chế chung. Thông qua chính sách quân điền, nhà nước Lê - Trịnh có thể để nắm chắc ruộng đất công làng xã, giải quyết tình trạng nông dân không có ruộng đất cày cấy, 16 nhưng sự thực như nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét: “nước ta duy có trấn Sơn Nam có rất nhiều ruộng công và đất bãi công còn các nơi khác, các hạng ruộng công không có mấy.

Điều đó, đã làm cho chính sách quân điền không còn tác dụng nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ