CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỜI LÊ - TRỊNH VÀ HIỆN TƯỢNG THAM NHŨNG TRƯỚC THỜI LÊ - TRỊNH 1. Tổng quan về thời Lê - Trịnh 1. Tình hình chính trị Sau giai đoạn phát triển cực thịnh dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), sang thế kỷ XVI, triều Lê ngày càng suy thoái và dần mất đi vai trò lịch sử, các cuộc đấu tranh giữa các tập đoàn phong kiến nhằm mục đích tranh giành quyền lực lẫn nhau, đã gây nên những cuộc nội chiến kéo dài, đất nước bị phân chia thành những tập đoàn phong kiến khác nhau. Cuộc đấu tranh giành quyền lực của 3 dòng họ Mạc - Trịnh - Nguyễn đã đẩy Việt Nam vào một giai đoạn lịch sử rất phức tạp và hỗn loạn.
Năm 1592, sau khi củng cố lực lượng quân Nam triều đã mở cuộc tấn công quyết định vào Thăng Long và giành thắng lợi. Triều Mạc sụp đổ. Cục diện Nam - Bắc triều về cơ bản đã chấm dứt. Nước Đại Việt đã hình thành cục diện một chế độ hai chính quyền và một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong chế độ phong kiến Việt Nam với cơ chế “Vua ngồi ngai vàng, chúa nắm thực quyền”.
Lịch sử gọi là “thời kỳ Lê - Trịnh”. Sau khi dẹp xong cuộc phản kháng của tàn dư họ Mạc, uy quyền ngày càng cao, Trịnh Tùng ép vua Lê phải phong cho mình làm Đô Nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương vào năm Ất Mùi (1599), tức là người nắm giữ mọi quyền hành trong nước [23, tr. Với chức tước được phong, Trịnh Tùng ngày càng có nhiều cơ hội để thâu tóm mọi quyền hành, Trịnh Tùng được phép thành lập vương phủ, đặt các chức tham tụng, bồi tụng. để giúp mình cai trị đất nước.
Mặc dù triều đình vẫn có vua và các bộ, viện nhưng vua Lê Thế Tông đã ủy quyền cho chúa Trịnh trong việc cai quản đất nước bằng việc ban cho chúa Trịnh những vật tượng trưng cho uy quyền tối cao như chén ngọc, cờ lông, bút vàng, của cải, thuế má, nhân dân, được quyền tuyển bổ quan lại và được hưởng tước vương cha truyền con nối. Cho nên, vua chỉ là bù nhìn và quyền hành ngày càng bị rút bớt, 13 mọi chi tiêu đều dựa vào bổng lộc do chúa định.Và như vậy, họ Trịnh bắt đầu thế tập tước vương, hình thành chế độ vua Lê - chúa Trịnh, đất nước danh nghĩa có hai người đứng đầu nhưng thực chất do chúa Trịnh cai quản. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: “Nhà Lê từ thời trung hưng về sau, chúa Trịnh chuyên nắm giữ chính sự, quyền hành về hết phủ Chúa, nhà vua chỉ mang hư danh ở trên, gọi là còn phân vị chỉ có khác ở màu áo mặc và nghi vệ mà thôi” [2, tr. Chính quyền trung ương của triều Lê - Trịnh vẫn dựa theo triều Lê sơ trước đó, cụ thể là thời Hồng Đức với 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công).
Ở mỗi bộ đều có một thượng thư cùng hai viên Tả hữu thị lang chịu trách nhiệm chung và một cơ quan thường trực gọi là Vụ tư sảnh. Tuy nhiên, tuỳ vào mức độ công việc ở từng bộ, mỗi bộ sẽ có một hoặc vài cơ quan chuyên trách riêng, cơ quan giám sát như Lục khoa sẽ làm nhiệm vụ kiểm soát công việc của từng bộ theo chuyên môn còn Ngự sử đài giữa nhiệm vụ kiểm soát tất cả các cơ quan và các quan về nhiệm vụ chung. Sau đó, khi được phép lập phủ Chúa, họ Trịnh bắt đầu đặt ra một hệ thống tổ chức chính quyền ở phủ Chúa tương ứng với chính quyền sẵn có bên cung vua. Trước tiên, để bàn việc chính sự ở phủ Chúa, năm 1600, Trịnh Tùng đã đặt ra chức Tham tụng đảm đương công việc của Tể tướng.
Về phẩm thứ tuy chưa quy định, nhưng quyền lực của Tham tụng lại rất lớn, đều do chúa Trịnh tự tiến cử từ những viên Thượng thư hoặc Thị lang vào làm. “Từ đấy về sau, chính sự thuộc về phủ chúa” [23, tr. Ngoài ra, chúa Trịnh cho đặt thêm chức Bồi tụng cũng là chức vụ quan trọng được làm việc trong phủ chúa, còn lập ra sáu phiên ở phủ Chúa (Lại, Lễ, Hình, Công, Binh, Hộ) tương ứng với sáu bộ bên triều đình. Với vai trò, Lục phiên sẽ đảm trách hầu hết các công việc của Lục bộ.
Lục bộ chỉ có vai trò phối hợp Lục phiên để thực thi những công việc trước đây của mình. Và như vậy, tất cả mọi quyền hành quản lý đất nước thuộc về chúa Trịnh, vua Lê cùng toàn bộ triều đình chỉ có tính chất tượng trưng và hư danh. Cái thế đôi bên Hoàng gia - Vương phủ dựa vào nhau cùng tồn tại trở thành “cái thế bất dịch rồi” và “thời kỳ Lê trung hưng thực chất chỉ là thời kỳ chuyên quyền của họ Trịnh, ngai vàng vua Lê chỉ là một nhãn hiệu bên ngoài, một con cờ trong tay chúa Trịnh” [11, tr. 14 Tuy nhiên, sự tồn tại đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, nổi bật nhất vẫn là mâu thuẫn giữa những người đứng đầu hai hệ thống chính quyền: vua Lê và chúa Trịnh.
Bởi lẽ, chúa Trịnh muốn tập trung quyền lực vào tay của mình và dần dần xây dựng cho mình một hệ thống chính quyền phục vụ cho quyền lợi của tập đoàn phong kiến của mình, khống chế và kiểm soát bộ máy triều đình của vua Lê. Thực chất, thành lập được một cơ quan đầu não do Chúa đứng đầu đã xuất hiện và hoạt động biệt lập với triều đình vua Lê, đó là Vương phủ (phủ Chúa). Xét cho cùng, các chức Chưởng phủ sự, Thự phủ sự, Quyền phủ sự bên ngạch võ gọi là quan Ngũ phủ. Các chức Tham tụng và Bồi tụng bên ngạch văn gọi là quan Phủ liêu.
Quan Ngũ phủ và Phủ liêu đã họp thành một cơ quan của Nhà nước quân chủ trung ương gọi là Ngũ phủ quan liêu - một chính phủ tối cao đặt dưới sự điều khiển của chúa Trịnh. Tuy vậy, những viên quan giữ chức vụ trong Ngũ phủ phủ liêu như các quan Chưởng phủ, Thự phủ ở Ngũ phủ và Tham tụng ở quan liêu đều làm nhiệm vụ uốn nắn lòng Vua, bàn phép trị dân, chọn lựa quan lại, thẩm xét hình cơ, chế định tài chính, định lệ kiện tụng, hội kê đinh điền, làm đúng thưởng phạt, giữ đúng pháp lệnh. Trong quá trình lập ra Ngũ phủ phủ liêu cùng các cơ quan giúp việc (từ Tam phiên đến Lục phiên) là cả một quá trình thâu tóm quyền hành của họ Trịnh từ phía Cung Vua về phía Phủ Chúa. Triều đình vua Lê cuối cùng chỉ còn lại một vài chức quan hư hàm làm nhiệm vụ nghi thức.
Chúa Trịnh trên danh nghĩa chỉ được xưng vương tước và đứng đầu Ngũ phủ phủ liêu, nhưng thực tế chúa Trịnh đã nắm hết mọi quyền hành trong chính quyền nhà nước lúc bấy giờ. Suy cho cùng những thay đổi về một số chức quan trong hàng văn võ đại thành hình thành nên Ngũ phủ phủ liêu cùng với việc lập ra Lục phiên thời chúa Trịnh, điều này đã làm cho bộ máy chính quyền Nhà nước thời kỳ này cồng kềnh và phức tạp. Không những vậy, bộ máy chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa phương đòi hỏi phải có một đội ngũ quan chức đông đảo. Nhưng vì bộ máy nhà nước có phần cồng kềnh và phức tạp nên số lượng quan lại cũng được giảm bớt.
Mặc dù tinh giản về số lượng quan chức, nhưng bộ máy chính quyền Nhà nước đặt ra cồng kềnh (gồm nhiều phiên hiệu) làm cho số quan lại hư hàm (có đủ phẩm tước, 15 bổng lộc nhưng không hoạt động) tăng lên nhiều. Điều đó, đã làm cho bộ máy quan chức thời kỳ này mang nặng tính quan liêu sâu mọt. Với hậu quả đó, để tăng cường và bổ sung đội ngũ quan lại vào bộ máy chính quyền Nhà nước, nhà nước Lê - Trịnh đã cho mở rộng khoa cử, đặc biệt từ khi trở về Thăng Long (1593), khoa cử được duy trì đều đặn, những người đỗ đạt vào làm quan nhiều hơn. Hơn thế nữa, do thiếu hụt ngân sách trong chiến tranh ở thời kỳ này có tình trạng mở rộng việc mua bán quan tước.
Trịnh Cương có lệnh cho quân dân trong nước ai dâng thóc thì cho quan tước. Nhìn chung, ở thời kỳ này, thi cử vẫn được coi trọng và quy chế thi cử vẫn như trước, góp phần cung cấp quan lại chủ yếu và tin cậy cho chính quyền. Việc phục hồi, xây dựng đất nước,quản lý xã hội đòi hỏi vai trò của các quan lại xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”. Nhu cầu về quan lại trong thời bình và sau thời chiến là một nhân tố tác động tích cực đến thi cử thời Lê - Trịnh, do đó thi cử thời này được Nhà nước quan tâm, tăng cường.
Tình hình kinh tế - xã hội Gần như suốt hơn một thế kỷ, nhân dân Đàng Ngoài luôn luôn phải sống trong cảnh chiến tranh, loạn lạc. Nông nghiệp bị tàn phá nghiêm trọng, thêm vào đó, bọn cường hào địa chủ địa phương tìm cách chiếm đoạt ruộng công, ruộng của nông dân. Qua tờ khải của Bùi Sĩ Tiêm, chúng ta được biết công điền ở các làng xã sau khi cấp cho binh lính thì ruộng thừa để quân cấp cho nông dân không được bao nhiêu, đã vậy còn bị kẻ giàu có chiếm hầu hết đám ruộng màu mỡ, dân nghèo chỉ được những mảnh cằn cỗi, đầu thừa đuôi thẹo, nặng về thuế má, lai dịch. Xã trưởng, thôn hào kết thành bè đảng, lấy tiền công ăn tiêu, lúc thiếu thì trưng thu, quấy nhiễu dân.
Trước tình hình đó, năm 1664, nhà Lê - Trịnh đặt phép “Bình lệ” lập sổ thuế một lần rồi cứ theo đó mà thu, “sinh thêm không tính, chết đi không trừ”. Bọn cường hào địa chủ địa phương lại nhân đó hạch sách dân thường. Kết quả là năm 1711, phủ chúa phải ban hành lại phép quân điền, theo đó làng xã phải thu hồi hết ruộng công cầm số, những người đã có ruộng lộc, ruộng tư (của vợ hay chồng) đủ mức đều không được cấp ruộng công, việc phân cấp phải thực hiện theo quy chế chung. Thông qua chính sách quân điền, nhà nước Lê - Trịnh có thể để nắm chắc ruộng đất công làng xã, giải quyết tình trạng nông dân không có ruộng đất cày cấy, 16 nhưng sự thực như nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét: “nước ta duy có trấn Sơn Nam có rất nhiều ruộng công và đất bãi công còn các nơi khác, các hạng ruộng công không có mấy.
Điều đó, đã làm cho chính sách quân điền không còn tác dụng nữa.