CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỰ THAM GIA CỦA KHU VỰC TƯ NHÂN TRONG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm khu vực tư nhân và khu vưc công Khu vực tư nhân: khu vực tư nhân là một thành phần của nền kinh tế, được sở hữu, kiểm soát và quản lý bởi các cá nhân và các tổ chức độc lập ngoài nhà nước. Các tổ chức tư nhân được thành lập theo 2 cách chính: thành lập tổ chức kinh doanh mới, hoặc tư nhân hóa tổ chức kinh doanh công.
Khu vực tư nhân Công ty Đơn sở Cổ phần Tổ chức Tập đoàn đa Hợp tác trách nhiệm hữu hóa tình nguyện quốc gia hữu hạn Mục tiêu của khu vực tư nhân khi gia nhập thị trường là tối đa hóa lợi nhuận. Để tồn tại, các chủ thể kinh doanh tư nhân phải cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chất lượng tốt và giá thành phù hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường. Các chủ thể kinh doanh của khu vực tư nhân đảm bảo tự chủ về mặt tài chính, nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Khu vực công: khu vực công là một thành phần của nền kinh tế, được sở hữu, kiểm soát và vận hành bởi Chính phủ gồm chính quyền trung ương, chính quyền cấp tỉnh và chính quyền cấp địa phương.
Các tổ chức thuộc khu vực công gồm 2 loại chính: nhà nước cung cấp toàn bộ toàn bộ tài chính thông qua doanh thu từ SV: Lâm Thị Phương Hoa MSV:11141535 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh thuế, phí, lệ phí,… và nhà nước nắm hơn 51% vốn cổ phần của tổ chức ( ví dụ: các bộ ban ngành, nhà khác chính phủ, …). Khu vực công Cơ quan thực thi pháp luật Cơ quan ban hành luật Doanh nghiệp nhà nước Mục tiêu của khu vực công khi tham gia thị trường là phục vụ cộng đồng. Các tổ chức công được thành lập để nâng cao đời sống của người dân bằng cách cung cấp các hàng hóa dịch vụ thiết yếu như điện, nước, giao thông,. Các hàng hóa được khu vực công cung cấp được gọi là hàng hóa công.
Nguồn tài chính của các tổ chức trong khu vực công được tài trợ hoàn toàn hoặc một phần (> 51%) từ ngân sách chính phủ. Bảng 1: Phân biệt khu vực công và khu vực tư Hạng mục Khu vực công Khu vực tư Định nghĩa Là một thành phần của nền kinh Là một thành phần của nền tế, được sở hữu và kiểm soát bởi kinh tế, được sở hữu và chính phủ, bao gồm: chính quyền kiểm soát bởi các cá nhân và trung ương, chính quyền cấp tỉnh, công ty tư nhân. chính quyền địa phương. Mục tiêu Phục vụ người dân Tối đa hóa lợi nhuận Nguồn tài chính Từ doanh thu chính phủ ( thuế, Phát hành cổ phiếu, trái phí, lệ phí, …) phiếu, vay nợ.
Việc làm Điều tiết được thị trường lao Mức lương hấp hẫn, môi động, người lao động được trường làm việc cạnh tranh, hưởng nhiều hơn các phúc lợi người lao động nhận được xã hội như trợ cấp, lương hưu, nhiều kích lệ trong công bảo hiểm, … việc. Thăng tiến Dựa trên thâm niên làm việc tại Dựa trên mức độ đóng góp tổ chức cho tổ chức Mức độ ổn định trong công Cao Thấp việc SV: Lâm Thị Phương Hoa MSV:11141535 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Có thể thấy rằng, cả hai khu vực đều bộc lộ những ưu và nhược điểm. Ngày nay, khi chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chú trọng hơn số lượng, các công ty tư nhân phát triển mạnh mẽ. Tính chất của thị trường cạnh tranh là động lực giúp các nhà đầu tư nhân không ngừng đầu tư vào khoa học kĩ thuật, nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
Trong khi đó, các công ty của khu vực công thường chậm trễ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cơ cấu tổ chức cũ kĩ, lao động trình độ thấp. Do đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực công kém hiệu quả hơn khu vực tư. Khu vực tư nhân đặt năng suất lao động lên hàng đầu, khối lượng công việc khổng lồ đòi hỏi người lao động có khả năng giải quyết nhiều công việc khác nhau. Điều này làm cho môi trường làm việc tuy áp lực nhưng luôn được làm mới.
Đây là điều thiếu vắng ở các tổ chức công, khi người lao động chỉ chú tâm vào một công việc đơn điệu, nhàm chán. Do đó, môi trường làm việc của khu vực tư nhân là môi trường mở, có nhiều sự động viên khích lệ và động lực với người lao động hơn khu vực công. Vấn đề sử dụng nguồn tài chính của khu vực tư nhân cũng hiệu quả hơn. Khi tư nhân trực tiếp bỏ vốn và phân bổ nguồn vốn sẽ tránh được tình trạng tham ô tham nhũng vì tiền được kiểm soát rất chặt chẽ để tối ưu hóa giá trị đồng vốn bỏ ra.
Trong khi đó, vốn của các tổ chức công được tào trợ từ chính phủ, người đứng đầu tổ chức không phải bỏ vốn vào công trình nên thường kiểm soát dòng tiền lỏng lẻo dẫn đến tình trạng tham ô, nguồn tài chính không được sử dụng cho các quyết định tối ưu nhất. Tuy nhiên, khu vực công đáp ứng tốt hơn khu vực tư về các khoản trợ cấp và phúc lợi cho người lao động, điều này làm người lao động vô cùng hài lòng và họ luôn mong muốn được làm việc cho các tổ chức công. Trong khi đó, khu vực tư nhân có múc độ ổn định trong công việc thấp, người lao động thường xuyên bị xa thải đến khi người chủ tìm được người phù hợp nhất cho công việc kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, người lao động cũng phải đối mặt với rủi ro mất việc nếu công ty phá sản hoặc làm ăn thua lỗ.
Khái niệm hàng hóa công và hàng hóa cá nhân Hàng hóa công (pubic good): Hàng hóa công là những hàng hóa có hai thuộc tính sau: Không cạnh tranh (non-rival). Một các nhân có thể tiêu dùng hàng hóa mà không làm giảm đi sự hiện diện hay lợi ích của hang hóa đó với những người khác. SV: Lâm Thị Phương Hoa MSV:11141535 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Không loại trừ (non-exclusive). Không thể cản trở người khác khỏi tiêu dùng hay nhận lợi ích của hàng hóa.
Hàng hóa công gồm 2 loại chính: Hàng hóa công thuần túy (pure public good) khi hội tự cả hai yếu tố trên. Hàng hóa công thuần túy không thể hoặc rất khó xác định chi phí và giá thành để bắt người tiêu dùng chi trả khi mua sản phẩm đó. Hàng hóa công thuần túy gồm 2 loại: Không bị ảnh hưởng trong quá trình sử dụng: việc tiêu dùng của người này không ảnh hưởng đến người khác. Ví dụ: nắng, gió, đèn đường, an ninh quốc phòng, … Bị ảnh hưởng khi sử dụng: lượng sử dụng của người này làm ảnh hưởng đến lượng sử dụng của người khác.
Ví dụ: giao thông giờ cao điểm, không khí trong phòng, … Hàng hóa công không thuần túy (impure public good) khi chỉ 1 trong 2 yếu tố của hàng hóa công được thỏa mãn. Hàng hóa công không thuần túy có thể định xác định chi phí, giá thành để bắt người tiêu dùng trả khi mua sản phẩm đó. Ví dụ: chi phí khám bệnh, giáo dục,… Hàng hóa công có lợi ích lớn hơn chi chi phí tạo ra. Do vậy, về mặt xã hội, hang hóa công cần thiết được cung cấp.
Tuy nhiên, hai đặc điểm của hàng hóa công dẫn đến tính trạng “ người ăn theo” (rider). Để xác định được chính xác nhất mức cung hàng hóa công cộng hiệu quả, các cá nhân phải trung thực về nhu cầu của bản thân và tự nguyện đóng góp. Tuy nhiên, nếu người tiêu dùng đóng góp ít hay không đóng góp thì hàng hóa công vẫn được cung cấp. Do vậy, người tiêu dùng có xu hướng trả ít tiền hay không trả tiền để sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Số lượng người ăn theo là rất lớn, nên chi phí để cung cấp hàng hóa công là rất lớn trong khi khả năng thu hồi vốn được xem như không thể. Đây là lý do cho việc tư nhân không tham gia cung cấp hàng hóa công vì mục tiêu của khu vực này như đã đề cập ở trên là tối đa hóa lợi nhuận. Giải pháp thị trường bị thất bại đối với hàng hóa công. Để giải quyết vấn đề này, chính phủ phải tổ chức cung cấp hàng hóa công.
Có hai cách chính phủ thực hiện cung cấp hàng hóa công: Chính phủ chi tiền và tổ chức thực hiện, và chính phủ chi tiền và tổ chức thực hiện. Trái ngược với hàng hóa công, hàng hóa cá nhân có tính cạnh tranh và loại trừ khỏi tiêu dùng. Tính cạnh tranh: việc tiêu dùng một đơn vị hàng hóa của người này dẫn đến việc giảm đi lượng có sẵn của SV: Lâm Thị Phương Hoa MSV:11141535 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh hàng hóa đó đối với người tiêu dùng người khác. Tính loại trừ: nếu người tiêu dùng không trả tiền thì sẽ không được tiêu dùng hàng hóa đó.
Hàng hóa cá nhân được cung cấp bởi khu vực tư nhân. Phần lớn các hàng hóa trên thị trường là hàng hóa cá nhân, giá và sản lượng được xác định bởi cung và cầu thị trường. Thị trường là thị trường cạnh tranh nên các doanh nghiệp kinh doanh luôn có xu hướng nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút người tiêu dùng. Khái niệm hàng hóa nước sạch Nước sạch: là nước trong, không màu, không mùi, không chứa các chất độc hại và vi khuẩn gây bệnh cho con người.
Nước sạch được dùng cho các mục đích sinh hoạt hằng ngày của con người, không thể sử để uống trực tiếp. Nước sạch được xác định theo Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 do Bộ Y Tế ban hành về Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch. Bảng 2: Tiêu chuẩn nước sạch của Bộ Y Tế TT Tên chỉ tiêu Giới hạn tối đa Đơn vị tính 1 Màu sắc 15 TCU 2 Mùi vị Không có mùi lạ NTU 3 Độ đục 5 NTU 4 pH 6-8.5 5 Độ cứng 350 mg/l 6 Amonic tính theo NH4- 3 mg/l 7 Nitrat tính theo NO3- 50 mg/l 8 Nitrit tính theo NO2- 3 mg/l 9 Clorua 300 mg/l 10 Asen 0.5 mg/l 12 Độ oxy hóa theo KMnO4 4 mg/l 13 Tổng chất rắn hòa tan ( TDS) 1200 mg/l 14 Đồng 2 mg/l 15 Xinaua 0.5 mg/l 19 Thủy Ngân 0.