Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo nguồn vốn trong nước phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nền KTQD 1.1 Những vấn đề cơ bản về vốn cho CNH, HĐH.1 Lý luận chung về CNH, HĐH nền KTQD. Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế hết sức sôi động, các nước đều đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, phát triển kinh tế là quy luật khách quan của tồn tại và phát triển xã hội loài người ở bất cứ giai đoạn nào. Tất cả các nước không loại trừ các nước giàu mạnh về kinh tế, suy đến cùng, phương thức sản xuất là sự khởi đầu và quyết định đến phát triển kinh tế.
Như ta đã biết mỗi phương thức sản xuất xã hội đều phải có một cơ sở vật chất- kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội nhất định thường được hiểu là toàn bộ vật chất của lực lượng sản xuất cùng với kết cấu của xã hội tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội tồn tại trong phạm vi các quan hệ sản xuất nhất định nên nó mang dấu ấn và chịu sự tác động của các quan hệ sản xuất trong việc tổ chức quá trình công nghệ. Với hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), cơ sở vật chất - kỹ thuật của họ là nền đại công nghiệp cơ khí có thể cải tạo được cả nền nông nghiệp.
Nền đại công nghiệp cơ khí ở các nước TBCN hầu hết được hình thành qua quá trình tích tụ và tập trung tư bản để hình thành lên những công trường thủ công, rồi đến những đại công trường với trình độ cơ khí hoá và tự động hoá ở mức cao. Đối với các nước xây dựng và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa -5- (XHCN), phương thức sản xuất cũng đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển cao với hệ thống sản xuất và phân phối tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của người dân, đảm bảo sự công bằng xã hội. Trong quá trình đi lên CNXH, mỗi nước đều hướng tới sự phát triển với những đặc trưng khác nhau nhưng nhìn chung chỉ có một con đường thống nhất đó là xây dựng một nền kinh tế với hệ thống cơ sở vật chất to lớn, một hệ thống sản xuất và phân phối hiện đại, và một hệ thống chính trị, xã hội lành mạnh và ổn định. Nhìn vào xuất phát điểm của mỗi nước, có thể chia các nước đã, đang và sẽ đi lên theo con đường XHCN thành hai nhóm.
Một là các nước xây dựng CNXH sau khi đã trải qua giai đoạn phát triển phương thức sản xuất TBCN. Phần còn lại là các nước không trải qua phương thức sản xuất TBCN. Với các nước nhòm đầu, hầu như họ đã có được một hệ thống cơ sở vật chất đủ để đảm bảo khả năng xây dựng một phương thức sản xuất XHCN. Tuy nhiên, với các nước còn lại, việc không trải qua giai đoạn phát triển phương thức sản xuất TBCN đã khiến họ chưa có được một hệ thống có sở hạ tầng đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu của phương thức sản xuất mới.
Chính vì vậy, các nước này phải trải qua một giai đoạn quá độ với đặc trưng là xây dựng được một nền kinh tế xã hội dựa trên một nền tảng vật chất, khoa học, kỹ thuật và công nghệ ở trình độ cao. Việt Nam đang trên con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, nên chưa có cái cốt vật chất - kỹ thuật của CNTB. Việc bỏ qua chế độ TBCN không đồng nghĩa với việc bỏ qua phương thức sản xuất TBCN. Vì vậy, trong thời gian quá độ, chúng ta phải xây dựng một phương thức sản xuất dựa trên những đặc trưng của phương thức sản xuất TBCN để xây dựng được một hệ thống cơ sở- vật chất kỹ thuật đủ mạnh cho CNXH.
Để hoàn thành nhiệm vụ này, chúng ta tất yếu phải thực hiện CNH. Trong thời đại ngày nay cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại đang tác động mạnh mẽ trên thế giới. Do đó, nước ta phải thực hiện CNH gắn liền với HĐH để tranh thủ những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. -6- Hiểu một cách đầy đủ, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất xã hội cao.
Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất. Đồng thời, đi đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học – công nghệ – kỹ thuật thông tin – vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dụng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các tất cả các lĩnh vực một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại. Nội dung cơ bản, lâu dài của CNH, HĐH là quá trình cơ khí hoá nền kinh tế dựa trên khoa học kỹ thuật tiên tiến. CNH là quá trình chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí, nhưng trong điều kiện nay thì phải tranh thủ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, CNH lấy công nghệ làm động lực phát triển vì vậy cần nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, lựa chọn những công nghệ phù hợp dựa trên cơ khí hoá, HĐH sẽ tạo tiền đề vật chất để thực hiện phân công lại lao động xã hội theo hướng chuyển một bộ phận lao động trong nông nghiệp sang ngành kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, kết hợp cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ và thành phần kinh tế để khai thác thế mạnh, tiềm năng của mỗi ngành, mỗi địa phương theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải hoàn thiện cơ cấu – tổ chức – vận hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp -7- quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đứng thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia. Nội dung trước mắt của CNH, HĐH là coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển ngành công nghiệp, cải tạo, nâng cấp và mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, tài chính, bưu chính viễn thông, hàng không quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực. Như vậy, quá trình CNH, HĐH thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế – chính trị – xã hội từng bước tiến lên trình độ tiên tiến và hiện đại.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra quy luật khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế – chính trị – xã hội tiên tiến và hiện đại do CNH, HĐH tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và trình độ của nền văn hoá xã hội, là cơ sở để hoàn thành nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNHXN. CNH, HĐH có tác dụng về nhiều mặt đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nó thể hiện: Thứ nhất: Phát triển lực lượng sản xuất, từ đó xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị kỹ thuật, công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động xã hội. Thứ hai: Xây dựng hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba: Thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ tư: Phát triển một nền giáo dục toàn diện, nâng cao trình độ văn hoá. Thứ năm: Xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tăng cường hợp tác quốc tế Thứ sáu: Giữ vững an ninh xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng. Với tác dụng quan trọng như trên, CNH, HĐH nền KTQD được coi là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Để có -8- được một cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn đáp ứng được yêu cầu của phương thức sản xuất XHCN, chúng ta cần phải có một nền công nghiệp hiện đại cân đối phù hợp dựa trên trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng cao. Trong điều kiện là một nước đang phát triển, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nền kinh tế còn dựa nhiều vào một nền nông nghiệp lạc hậu thì để có được một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội văn minh công nghiệp, chúng ta cần phải tiến hành công nghiệp hoá kết hợp với hiện đại hoá để làm cho xã hội chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại làm biến đổi căn bản bộ mặt của xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, không qua chế độ TBCN là phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến. Theo đó, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN.
Theo quy luật chung nhất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.