Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC KHỐI PHÒNG, BAN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Viên chức khối phòng, ban trong cơ sở giáo dục đại học 1. Khái niệm viên chức Viên chức là một thuật ngữ được dùng nhiều trong đời sống xã hội, dùng để chỉ những người làm việc, hưởng lương tại cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức sự nghiệp do nhà nước thành lập. Trong mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Điều 2). Như vậy, Luật Viên chức năm 2010 cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Công việc lao động của viên chức không mang tính chất quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ.
Vì vậy, Luật Viên chức năm 2010 đã làm rõ “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan” (Điều 4). Về chức trách, nhiệm vụ, viên chức được phân thành hai loại: Viên chức quản lý và Viên chức không giữ chức vụ quản lý, cụ thể: - Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. - Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đề án này chúng tôi xác định nghiên cứu về viên chức không giữ chức vụ quản lý và có trình độ đại học trở lên.
Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Đặc điểm của viên chức Ngay trong khái niệm viên chức được quy định tại Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 cũng đã nêu rõ các đặc điểm của viên chức. Dựa vào các đặc điểm như khái niệm đã nêu để xác định đó là viên chức. Như vậy viên chức có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam.
“Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật” (Điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008). Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”.
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010). Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự; Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp 9 luật.
Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… 1. Nhiệm vụ của viên chức khối phòng, ban trong cơ sở giáo dục đại học Dựa trên mục 2 của Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 quy định về nghĩa vụ của viên chức, các nhiệm vụ của viên chức gồm hai nhóm chính sau: “Nhiệm vụ chung của viên chức: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước; Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập; Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài sản được giao; Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức” (Điều 16). “Nhiệm vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp: Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và chất lượng; Phối hợp tốt với đồng nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ; Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền; Thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; Khi phục vụ nhân dân, viên chức phải tuân thủ các quy định sau; Có thái độ lịch sự, tôn trọng nhân dân; Có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn; Không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân; Chấp hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp. Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp; Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 17).
Do là viên chức làm việc trong cơ sở giáo dục đại học nên ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ của viên chức theo quy định thì viên chức khối phòng ban tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh còn có những nhiệm vụ khác như chủ động nghiên cứu, đề xuất cải tiến quy trình làm việc trong phạm vi công việc được giao; tham gia xây dựng và hoàn thiện các quy định, quy chế của đơn vị phù hợp với thực tiễn; tham gia các khóa đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực theo yêu cầu của Trường; tham gia các nhóm công tác, tổ chuyên môn theo phân công của Trường; hỗ trợ giảng viên, sinh viên trong các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học; tham gia công tác tổ chức các sự kiện học thuật, hội thảo, hội nghị của Trường; tham gia các hoạt động đảm bảo chất lượng và kiểm định của Trường,… 10 1. Động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc Hiện nay có nhiều những quan niệm khác nhau về ĐLLV nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất. Theo Giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Stee và Porter (1983), “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của cá nhân để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc. Ta có thể thấy được các định nghĩa trên đều cho rằng động lực làm việc là trạng thái tự nguyện bên trong, thúc đẩy con người nỗ lực đạt năng suất cao nhất. Nó thể hiện qua sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc hay sự khát khao và tự nguyện của cá nhân, giúp con người làm việc thoải mái, có trách nhiệm và sáng tạo.
Động lực này thay đổi theo từng cá nhân, nhiệm vụ và thời điểm khác nhau. Nhà quản lý cần nắm bắt điều này để có biện pháp phù hợp, thông qua việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần, từ đó phát huy tối đa hiệu quả làm việc của người lao động. Như vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về ĐLLV là: “Động lực làm việc là sự tự nguyện, tích cực làm việc của con người trong điều kiện cho phép nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc để đạt được mục tiêu của bản thân và tổ chức”. Tuy nhiên ĐLLV không hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố bên trong của cá nhân mà nó có thể thay đổi bởi các yếu tố khách quan trong công việc.