Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo viên tiểu học và đặc điểm của giáo viên tiểu học 1.1 Khái niệm giáo viên tiểu học Theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 2014 thì “Giáo viên là người giảng dạy ở các trường phổ thông hoặc tương đương” [5, tr. Theo Khoản 1 Điều 66 Luật Giáo dục năm 2019 [21] thì “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục.
Giáo viên có nhiệm vụ chính là giảng dạy, giáo dục và đào tạo tại các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, ở mỗi cấp học thì nhiệm vụ khác nhau. Giáo viên phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo và để xã hội được xã hội tôn vinh, họ luôn phải gương mẫu trong lời ăn, tiếng nói…để đạt được điều đó, giáo viên phải luôn tu dưỡng đạo đức, phẩm chất, học tập nâng cao trình độ. Bên cạnh đó phải xây dựng được hình ảnh của nhà trường với xã hội, nhất là với học sinh và cha mẹ học sinh.
Giáo viên tiểu học không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn trang bị cho các em kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi, từ đó các em biết xử lý các tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Trong quá trình dạy học, giáo viên vừa phải đảm bảo tính khoa học và vừa có tính nghệ thuật, khoa học thể hiện ở chỗ phải dạy đúng kiến thức, bố trí đúng, đủ chương trình, thời gian…nghệ thuật là với từng đối tượng học sinh thì phải dùng các phương pháp truyền thụ sao cho phù hợp, thiết kế một tiết dạy sao cho linh hoạt, thu hút được học sinh tập trung học tập, khích lệ kịp thời để học sinh tiến bộ… Từ những phân tích trên, Khái niệm đội ngũ giáo viên tiểu học là tập hợp 10 những nhà giáo, những chuyên gia, các nhà sư phạm có đầy đủ tiêu chuẩn nhà giáo đã và đang giảng dạy trong cơ sở giáo dục tiểu học, có khả năng cống hiến tài năng, sức lực của họ cho sự nghiệp giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong Luật Giáo dục. Trong nhà trường tiểu học, tập thể sư phạm là tổ chức của tập thể những người hoạt động lao động sư phạm. Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có phương pháp giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường.
Tập thể giáo viên tiểu học là những người trực tiếp làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất quyết định đến chất lượng giáo dục và mục tiêu, sứ mạng trong nhà trường. Như vậy đội ngũ giáo viên tiểu học là tập thể các nhà quản lý, các nhà giáo được tổ chức thành một lực lượng, thành đội ngũ có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu giáo dục trong trường tiểu học. Đặc điểm của giáo viên tiểu học Có thể nói, giáo viên tiểu học là một người đa năng, họ dạy được nhiều môn học. Mặc dù kiến thức truyền tải cho học sinh tiểu học là “nhẹ” nhưng cũng không đơn giản.
Bởi đối tượng học sinh (lớp 1) được ví như tờ giấy trắng, còn hồn nhiên, đang tuổi ăn, tuổi lớn, tiếp thu kiến thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Vì thế người giáo viên đôi khi vừa dạy vừa phải nịnh, đang dạy phải dừng lại để tổ chức các hoạt động vui chơi tập thể để gây sự chú ý, giảm mệt mỏi, làm tỉnh ngủ cho học sinh… Giáo viên tiểu học không chỉ là thầy cô mà còn là người cha, người mẹ thứ hai của học sinh, bởi lứa tuổi này đôi khi đến lớp còn khóc nhè, vệ sinh cá nhân chưa sạch, lo cho cả bữa ăn, giấc ngủ (đối với các em học bán trú)…Cũng vì thế mà nhiều thầy cô giáo là “thần tượng” trong mắt các em, khi về nhà có thể không nghe bố mẹ dạy học, vì “cô con dạy như thế”. Để làm được như thế, họ phải có tình yêu đối với trẻ nhỏ, coi học sinh như con, phải nhiệt tình, có khả năng giao tiếp tốt với cha mẹ học sinh, học sinh và đồng nghiệp. Họ còn là cầu nối giữa gia đình với nhà trường.
Chính vì vậy, giáo viên cần phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, trau chuốt trong cử chỉ, lời nói, thái độ, ngay trong giao tiếp đồng 11 nghiệp và cả trong sinh hoạt. Động lực và tạo động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm trong cuốn giáo trình Quản trị nhân lực của Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007 thì: Động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức. [7] Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là những gì động viên, khuyến khích, thôi thúc người lao động tự nguyện thực hiện những hành vi nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Động lực làm việc được hiểu là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực sẽ giúp người lao động chăm chỉ, nhiệt tình, hăng hái trong công việc, họ sẽ làm việc trên tinh thần tự nguyện, không bị cưỡng ép hay ra lệnh, công việc sẽ đạt kết quả vượt chỉ tiêu cũng như trước thời gian quy định. Qua đó, sẽ giúp xây dựng một tập thể mạnh, đoàn kết. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người.
Nhà quản lý cần có cách tạo động lực khác nhau theo từng đối tượng để đạt được mục tiêu, bởi mỗi người có một nhu cầu, đặc điểm tâm lý, điều kiện khác nhau. Để làm được điều này, nhà quản lý phải kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng, gần gũi, biết lắng nghe cấp dưới, để kịp thời điều chỉnh phương pháp quản lý… Khi một người đang nỗ lực, kiên trì và tích cực trong công việc là họ đang có mục đích hướng đến. Để họ đạt được mục đích thì ngoài sự nỗ lực của bản thân họ cũng rất cần sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của tập thể nhất là nhà quản lý. Như vậy, tạo động lực làm việc cho giáo viên là nhà quản lý sử dụng các biện pháp áp dụng cho cá nhân trong trường giúp họ tạo ra động lực làm việc.
Với cách hiểu đã trình bày ở trên về động lực, thì tạo động lực là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện 12 của viên chức trong thực thi công việc để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là giúp người lao động làm việc hiệu quả hơn, từ đó giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra. Ngoài ra, tạo động lực sẽ giữ chân được cá nhân gắn bó lâu dài với tổ chức. Tạo động lực cho giáo viên tiểu học Chất lượng giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào giáo viên, tuy nhiên không phải cứ có đội ngũ giỏi là chất lượng trường đó tốt, bởi vì nếu giáo viên không có động lực làm việc thì sẽ không phát huy được khả năng cống hiến và sức sáng tạo của họ.
Chính vì thế, tạo động lực cho giáo viên là cần thiết, xong vẫn còn nhiều bất cấp, cần phải có giải pháp đồng bộ và lâu dài. Khi giáo viên được tạo động lực dù bằng vặt chất hay tinh thần cũng sẽ giúp họ hăng say trong công việc, có sáng kiến hoặc phương pháp dạy học mới, qua đó sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy học, xây dựng uy tín của nhà trường đối với xã hội và nhân dân. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm rất lớn tới giáo dục, điều đó được thể hiện bằng các Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị, Quyết định được ban hành, cụ thể là Chính phủ cũng như Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quy định chế độ nhà giáo ( tiền lương, giảm giờ dạy, phụ cấp thâm niên ngành, các ưu đãi khác.), vì thế mà đời sống giáo viên cũng đã được cải thiện, so về mức thu nhập thì giáo viên đang có thu nhập cao so với nhiều ngành nghề khác. Giờ đây, câu nói “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” không còn đúng, bởi chất lượng đầu vào và tỉ lệ cạnh tranh khá cao.
Như vậy, khái niệm tạo động lực cho giáo viên tiểu học được hiểu như sau: là việc sử dụng các biện pháp kích thích nhằm thôi thúc, động viên, khuyến khích giáo viên tiểu học hoàn thành tốt các nhiệm vụ được nhà trường giao cho. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc Trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều nghiên cứu về tạo động lực làm việc. Các công trình nghiên cứu đều đưa ra cái nhìn và quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc. Qua đây cho ta thấy việc tạo động lực làm việc cho người 13 lao động là phức tạp, nó chịu sự chi phối nhiều yếu tố, nhiều mặt của đời sống xã hội.
Các học thuyết có thể được chia thành hai nhóm: Thứ nhất, các học thuyết về nội dung: quan tâm tới những gì tạo ra và duy trì hành vi của: cá nhân. Các học thuyết này đề cập đến việc nhận biết những gì ở bên trong một cá thể hay môi trường làm việc đã truyền sinh lực và trợ sức cho hành vi. Tức là những sự vật cụ thể nào đã thúc đẩy con người (nhu cầu của mỗi cá nhân, sự hấp dẫn hay thú vị của công việc, hay yếu tố khác. Theo đó, các lý thuyết nội dung gồm các thuyết tiêu biểu như: Thuyết nhu cầu của Maslow, Thuyết ERG của Aldefer, thuyết hai yếu tố của Herzberg, thuyết động lực nội tại của Hackman và Oldman,.
Học thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow Maslow chia nhu cầu thành hai bậc: nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu bậc thấp gồm các nhu cầu về sinh lý và an toàn, được bảo vệ. Nhu cầu bậc cao gồm nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu khẳng định bản thân. Nhu cầu bậc thấp, dễ thỏa mãn hơn vì chúng hữu hạn và được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi nhu cầu bậc cao được thỏa mãn từ nội tại của con người.