Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực làm việc. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc tại Viện Dân tộc.
Đề xuất một số giải pháp tạo động lực làm việc tại Viện Dân tộc. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm về động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc Trong giai đoạn hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển của tổ chức.
Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong tổ chức, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhƣng tất cả các quan niệm đó đều có những điểm chung cơ bản nhất. Theo giáo trình quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân cho rằng“Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS. Bùi Anh Tuấn: “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Suy cho cùng động lực làm việc là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi ngƣời lao động mà ra.
Nhƣ vậy, mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động lực để ngƣời lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Tạo động lực làm việc “Làm thế nào để khuyến khích ngƣời lao động làm việc hăng say, sáng tạo?” hay “Làm thế nào tạo động lực cho ngƣời lao động?” là những câu hỏi mà các nhà quản lý luôn trăn trở và phải tìm câu trả lời. 7 z Khi nghiên cứu về động lực của ngƣời lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thƣờng thống nhất ở một số điểm sau: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc, không có động lực chung chung gắn với công việc cụ thể nào; - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có ngƣời có động lực và ngƣời không có động lực; - Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của ngƣời lao động, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc; - Ngƣời lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Nhƣng ngƣời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Theo Bùi Anh Tuấn - Phạm Thúy Hƣơng (2009): Động lực của ngƣời lao động chịu tác động và ảnh hƣởng của nhiều nhân tố. Các nhân tố có thể phân thành 03 nhóm nhƣ sau: Nhóm nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm: - Thái độ, quan điểm của ngƣời lao động trong công việc và đối với tổ chức; - Nhận thức của ngƣời lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân; - Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân ngƣời lao động; - Đặc điểm tính cách của ngƣời lao động.
Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm: - Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp; - Mức độ chuyên môn hóa của công việc; - Mức độ phức tạp của công việc; - Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc; - Mức độ hao phí về trí lực. 8 z Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm: - Mục tiêu, chiến lƣợc tổ chức; - Văn hóa của tổ chức; - Lãnh đạo (quan điểm, phong cách, phƣơng pháp); - Quan hệ nhóm; - Các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ngƣời lao động, nhất là các chính sách về quản trị nguồn nhân lực. Vì vậy, tạo động lực đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc. Tạo động lực cho ngƣời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của nhà quản lý.
Một khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng, tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác, thông qua đó nhà quản lý đạt đƣợc mục tiêu mà tổ chức đặt ra. Quá trình tạo động lực làm việc Có rất nhiều cách tạo động lực làm việc khác nhau từ phía các nhà quản lý, nhƣng tựu chung lại để biết họ phải làm gì và bắt đầu từ đâu, các nhà quản lý đều phải dựa trên nhu cầu của cá nhân ngƣời lao động và diễn biến tâm lý của họ theo trình tự logic thành các bƣớc dƣới đây: Nhu cầu Sự Các Hành Nhu Giảm không căng động vi tìm cầu căng đƣợc thẳng cơ kiếm đƣợc thẳng thỏa thỏa mãn mãn Hình 1.1: Các bƣớc của quá trình tạo động lực (Nguồn: Bùi Anh Tuấn - Phạm Thúy Hương, Hành vi tổ chức, 2009, trang 87) Nhu cầu là trạng thái mất cân bằng trong cơ thể và đòi hỏi con ngƣời hành động nhằm lấy lại cân bằng. Xuất phát từ nhu cầu không đƣợc thỏa mãn sẽ tạo ra sự căng thẳng, và sự căng thẳng thƣờng kích thích những động cơ bên trong các cá nhân. Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có 9 z đƣợc các mục tiêu cụ thể mà nếu đạt đƣợc sẽ thỏa mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng.
Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con ngƣời, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu và tình cảm của họ. Quá trình tạo động lực diễn ra một cách liên tục, khi nhu cầu cũ đã đƣợc thỏa mãn thì nhu cầu mới lại xuất hiện và cần đƣợc thỏa mãn. Quá trình tạo động lực diễn giải cho ta diễn biến hành vi và tâm lý của ngƣời lao động trong hoạt động lao động. Đây là cơ sở rất hữu ích giúp nhà quản lý có thể tạo ra điều kiện, cơ hội giúp nhân viên thỏa mãn đƣợc nhu cầu, mong muốn của họ và đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Sự cần thiết phải tạo động lực cho ngƣời lao động Việc tạo động lực cho ngƣời lao động trong mỗi tổ chức là một phạm trù rất rộng và mang tính chất trừu tƣợng. Việc kích thích ngƣời lao động hăng say làm việc, tăng năng suất lao động không những mang lại lợi ích cho ngƣời lao động mà còn cho cả tổ chức. Từ đó năng suất lao động cá nhân tăng, sự đóng góp của cá nhân cho tổ chức tăng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc kết quả công việc và lợi nhuận đều tăng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nhân sự là yếu tố đƣợc đặt lên hàng đầu trong một tổ chức, tổ chức nào muốn đứng vững trong môi trƣờng hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ nhƣ hiện nay, thì buộc phải quan tâm đến chính sách nhân sự của mình.
Thực tế đã chứng minh chỉ cần có một đội ngũ lao động phù hợp với chiến lƣợc phát triển rõ ràng cộng thêm với cách quản lý hợp lý thì tổ chức đó có thể thành công. Muốn đạt đƣợc những mục tiêu về sự phát triển của tổ chức có hiệu quả cao đòi hỏi mỗi tổ chức phải sử dụng những phƣơng pháp gì? Hình thức quản lý nhƣ thế nào? Để phát huy khả năng của ngƣời lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí và đem lại hiệu quả cao trong quá trình hoạt động. Một trong những công cụ quản lý hữu hiệu là thông qua công tác quản lý quỹ tiền lƣơng, quỹ tiền thƣởng để tạo ra động lực vật chất, tinh thần mạnh mẽ trong lao động, thúc đẩy ngƣời lao động tham gia sản xuất có hiệu quả, kích thích tổ chức sử dụng hợp lý các hình thức tạo động lực trong lao động. Trần Xuân Cầu thì tạo động lực mang lại lợi ích cho ngƣời lao động, cho tổ chức và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội nhƣ sau: 10 z - Đối với ngƣời lao động: Làm tăng năng suất lao động cá nhân.
Khi có động lực làm việc thì ngƣời lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, kết quả là năng suất lao động cá nhân đƣợc nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lƣơng cũng đƣợc nâng cao hơn trƣớc và nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động phát huy đƣợc tính sáng tạo: Tính sáng tạo thƣờng đƣợc phát huy khi con ngƣời cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. Tăng sự gắn bó với công việc và tổ chức hiện tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận đƣợc sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. Thêm một lợi ích nữa đối với ngƣời lao động đó là khi công việc đƣợc tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy đƣợc công sức mình bỏ ra là có ích và đạt đƣợc hiệu quả cao.
Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa. - Đối với tổ chức: Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ đƣợc sử dụng hiệu quả nhất và có thể khai thác tối ƣu các khả năng của ngƣời lao động và nâng cao hiệu quả công việc. Hình thành nên tài sản quý giá của tổ chức đó là đội ngũ lao động giỏi, có tâm huyết, gắn bó với tổ chức đồng thời thu hút đƣợc nhiều ngƣời tài về làm việc cho tổ chức đó. Tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng văn hóa tổ chức, nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức.