Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm có liên quan 1. Giảng viên đại học Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về giảng viên đại học, tuy nhiên đều chung quan điểm mô tả về những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học. Theo Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục, “Giảng viên là Ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo được xếp cho viên chức, chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học.
Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên” [3, tr. Theo đó, giảng viên đại học là người trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo đại học và thích ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế xã hội. Phân loại giảng viên có nhiều tiêu chí khác nhau: - Theo ngạch viên chức: Căn cứ tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch viên chức bậc đại học giảng viên được phân loại như sau [3, tr.
Giảng viên cao cấp (hạng I) Mã số: V. Giảng viên chính (hạng II) Mã số: V. Giảng viên (hạng III) Mã số: V. Trợ giảng (hạng III) Mã số: V.23 - Theo học vị: Giảng viên được phân loại như sau: Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học - Theo học hàm: Giảng viên được phân loại bao gồm: Phó giáo sư, Giáo sư - Theo chức danh: Giảng viên được phân loại cụ thể: Trợ lý giảng dạy, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư.
Nhu cầu, động cơ, động lực - Nhu cầu: Nhu cầu được nhắc đến là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Theo định nghĩa của Bùi Thị Xuân Mai (2011) “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…)” [10]. Có thể hiểu, nhu cầu có thể chia thành hai nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người.
Khi những nhu cầu này được thỏa mãn, con người mới có thể hoạt động và phát triển tốt. Nhu cầu tinh thần được nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu vật chất và được nhu cầu vật chất nuôi dưỡng. Nhu cầu tinh thần cũng vô cùng đa dạng: nhu cầu học tập, nhu cầu làm khoa học nghệ thuật, chính trị, nhu cầu công bằng xã hội… Có thể nói, nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi cá nhân có những nhu cầu khác nhau, chi phối mạnh mẽ tới đời sống tâm lý và hành vi của họ, thúc đẩy họ hoạt động.
Việc tìm cách thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao làm cho xã hội phát triển. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế ngày nay, việc tìm hiểu đúng nhu cầu của người lao động là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của người lao động; từ đó tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp. - Động cơ: Động cơ là động lực nằm sau hành động, nó thúc đẩy con người hướng tới và thực hiện hành động nào đó một cách có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. 11 Động cơ làm việc: được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
Động cơ là nguyên nhân dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trì hành động, định hướng hành vi chung cá nhân. Thực chất các động cơ hoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động. Động cơ và nhu cầu có thể thay thế nhau. Nhu cầu trong trường hợp này không liên quan đến sự khẩn cấp hoặc bất kỳ một sự mong muốn cấp thiết nào về một cái gì đó.
Nó chỉ có nghĩa một cái gì đó trong một cá nhân, thúc đẩy cá nhân đó hành động. - Động lực: Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội, ví dụ như: động lực phát triển, động lực học tập, động lực làm việc… Tuy nhiên, dưới nhiều góc độ khác nhau có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về khái niệm động lực. Động lực trong vật lý học được hiểu là sự tác động lên đối tượng để tạo ra sự biến đổi trong một điều kiện nhất định. Theo quan niệm của triết học thì động lực là sự thúc đẩy sự vật hiện tượng phát triển.
Khi nghiên cứu về khoa học quản lý con người xuất hiện nhiều khái niệm động lực khác nhau. Qua nhiều thời kỳ khái niệm về động lực được hiểu khác nhau. Động lực là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và của tổ chức. Như vậy hiểu một cách đúng đắn động lực bao gồm hai phần là động cơ và sự cố gắng vươn lên.
Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao sao cho có hiệu quả, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Động lực làm việc “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Có nhiều cách hiểu khác nhau về động lực. Động lực có thể là lý do để thực hiện hành vi, là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó.
12 Như vậy, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau. Trong mỗi quá trình lao động tại mỗi tổ chức đều xuất hiện động lực lao động.
Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điềm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực lao động. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [5, tr. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn (2009): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [16, tr.
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động như sau: “Động lực lao động là sự thôi thúc tự nguyện bên trong của mỗi người để nỗ lực thực hiện các mục tiêu của mình đã đề ra, cũng như mục tiêu chung của tổ chức.” Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường cụ thể. Như vậy, phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì nhà quản lý mới có thể đưa ra các biện pháp tạo động lực cho người lao động, làm họ tăng cường tính tự giác, tự nguyện trong công việc, nhằm thu được kết quả tốt nhất. Tạo động lực làm việc cho giảng viên đại học Các nhà quản lý giáo dục muốn xây dựng trường đại học vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp kích thích giảng viên nỗ lực, phát huy tính sáng tạo, chủ động trong quá trình làm việc, giảng dạy. Đây là vấn đề tạo động lực cho giảng viên trong các trường đại học.TS Lê Thanh Hà (2012): “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào” [7, tr. Theo Bùi Anh Tuấn (2009): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [16, tr. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà lãnh đạo vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý thiết lập nên những mục tiêu thiết thực, vừa phù hợp với mục tiêu và công việc của giảng viên, vừa thỏa mãn được mục đích của trường học. Đồng thời sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực của giảng viên, nhằm tác động đội ngũ giảng viên luôn tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, thái độ làm việc đúng đắn, hăng say trong nghề nhà giáo để từ đó đem lại hiệu quả cao trong công việc giảng dạy.
Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Năm cấp bậc nhu cầu trong mô hình của Maslow (1943) chỉ ra rằng nhu cầu của con người được chia thành năm bậc tăng dần: Sinh lý (Physiological needs), An toàn (Safety and security needs), Xã hội (Love and belonging need), Tự trọng (Esteem), Tự thể thiện (Self-actualization). Khi con người đã thoả mãn được một bậc nhu cầu thì nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, người quản lý cần xác định được cấp bậc của nhân viên để từ đó đưa ra những cách thức động viên nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ [25].
Theo Maslow mỗi cá nhân đều sẵn sàng hành động theo cấp bậc nhu cầu 14 tăng dần.