CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM VĂN HOÁ 1. Lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực Động lực là thuật ngữ thường gắn với các cụm từ như: Động lực làm việc, động lực lao động, động lực học tập, động lực phát triển, tạo động lực, …Theo Từ điển Tiếng Việt, động lực được hiểu là “cái thúc đẩy làm cho phát triển”, như vậy động lực là nhân tố bên trong là đòn bẩy tạo ra sự kích thích, thúc đẩy hình thành động cơ hành động của con người hướng tới sự phát triển, đạt được mục đích, kết quả đã đề ra.
Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins (1994) lại cho rằng, động lực là lực đẩy bên trong mỗi cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì động lực là “sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra”. Như vậy, động lực trở thành chất kích thích tạo nên sự chủ động, tích cực, sáng tạo và tự nguyện và đam mê cống hiến, luôn nỗ lực để hoàn thành được mục tiêu của cá nhân cũng như tổ chức đã đặt ra.
Động lực của mỗi cá nhân là kết quả được tạo nên từ các yếu tố thuộc môi trường sống và nhân tố thuộc về cá nhân đó. Vì thế, để tạo ra động lực (hành vi được thúc đẩy, khuyến khích) là kết quả của các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống, làm việc như: văn hoá tổ chức, các chính sách và việc thực hiện các chính sách tạo ra sự kích thích tinh thần, nỗ lực làm việc của cá nhân và các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động. Tuy còn nhiều quan niệm khác nhau về động lực, song dưới góc độ của khoa học quản trị, đa số tác giả đều thống nhất: động lực là những cái thúc đẩy con người nỗ lực hoạt động, làm việc để đạt được mục tiêu nhất định. Biểu hiện của động lực là sự hăng say, nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc.
Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quan điểm đó, tác giả đưa ra quan điểm về động lực như sau: “Động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật 7 chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức”. Khái niệm về động lực làm việc Tới thời điểm hiện tại có rất nhiều định nghĩa về động lực làm việc với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Động lực làm việc theo Frederick Winslow Taylor là sự thúc đẩy mà chủ yếu xuất phát từ các yếu tố kinh tế và tổ chức công việc một cách khoa học. Động lực của người lao động chủ yếu đến từ tiền lương và các phần thưởng tài chính.
Taylor cho rằng việc trả lương theo sản lượng và phân công công việc một cách hợp lý sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để tăng năng suất lao động. Theo Giáo trình quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007) thì “Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” [13] Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương (2009) động lực làm việc được hiểu là “những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [5]. Mỗi lý thuyết mang đến một góc nhìn khác nhau về cách thức động lực được hình thành và duy trì trong môi trường làm việc, tuy nhiên có thể thấy rằng động lực là yếu tố tâm lý hoặc vật lý thúc đẩy cá nhân hoặc nhóm làm việc với nỗ lực và sự tập trung cao độ. Nó không chỉ là sự khao khát hoàn thành nhiệm vụ mà còn là sự kết hợp của các yếu tố như mục tiêu rõ ràng, phát triển nghề nghiệp, và môi trường làm việc khuyến khích.
Khái niệm về tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là bao gồm tất cả các chính sách, biện pháp, và cách ứng xử của các nhà quản lý, của tổ chức nhằm tạo ra sự khao khát, tự nguyện của người lao động trong thực thi công việc để đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Tạo động lực vừa là mục tiêu vừa là trách nhiệm của nhà quản lý nhằm sử dụng nguồn lao động một cách hợp lý, khai thác hiệu quả nguồn lực con người để không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức (Maier, Lawler, 1973). 8 Trong cuốn giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương, tạo động lực làm việc được hiểu là “là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc” [5]. Tạo động lực làm việc theo tác giả Lương Văn Úc được hiểu là “tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức” [6].
Còn theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2015) lại được hiểu rằng tạo động lực làm việc được hiểu là “quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức” [14]. Tạo động lực làm việc theo quan điểm của tác giả chính là “quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức”. Vai trò của tạo động lực làm việc Bất cứ tổ chức nào cũng mong muốn nhân viên của mình có động lực làm việc và vì thế tạo động lực làm việc cho nhân viên là một trong những nhiệm vụ của các nhà quản lý. Mục đích cơ bản nhất của tạo động lực làm việc là nhằm sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức.
Bên cạnh đó, tạo động lực còn nhằm mục đích thu hút và gắn bó các cá nhân với tổ chức bởi vì khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ hăng say với công việc, nhiệt tình và hết lòng với tổ chức. Tạo động lực làm việc cho người lao động vì thế có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công của tất cả các tổ chức. Thứ nhất, đối với người lao động Động lực làm việc đóng vai trò then chốt trong việc tăng năng suất lao động, nhờ vào khả năng khơi dậy tinh thần hăng say, sự tự nguyện và nỗ lực không ngừng của người lao động. Khi các biện pháp, chính sách cùng với cách ứng xử của tổ chức, lãnh đạo và 9 quản lý được triển khai hiệu quả để thúc đẩy tinh thần làm việc, người lao động sẽ tự ý thức về mục tiêu công việc, đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm và sự cố gắng cao nhất.
Họ sẽ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, làm việc với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả tối ưu. Việc tạo động lực được coi là yếu tố cốt lõi để khơi dậy sự sáng tạo, sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và phong cách làm việc khoa học. Khi có động lực, người lao động sẽ luôn cảm thấy hài lòng với công việc được giao, dù gặp khó khăn họ vẫn nỗ lực vượt qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thứ hai, đối với tổ chức Việc khuyến khích động lực làm việc được xem là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của tổ chức, góp phần nâng cao khả năng phát triển và tăng cường tính cạnh tranh.
Lý do là động lực làm việc giúp tổ chức sử dụng nhân lực một cách hiệu quả, tạo sự hứng thú trong công việc cho người lao động, từ đó nâng cao hiệu suất và hỗ trợ tổ chức hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Việc thúc đẩy động lực làm việc thông qua các chính sách hiệu quả là một trong những biện pháp hàng đầu để xây dựng môi trường làm việc sáng tạo, dân chủ, thân thiện, đầy trách nhiệm, gắn kết, hợp tác và chia sẻ. Đồng thời, những chính sách này cũng giúp giảm bớt các vấn đề tiêu cực trong quá trình hoạt động của tổ chức. Đặc biệt, chính sách khuyến khích động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nhân tài, giữ chân người tài, góp phần đẩy mạnh phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Tạo động lực làm việc cho viên chức, người lao động tại Trung tâm Văn hóa 1. Khái niệm về viên chức, người lao động 1. Khái niệm viên chức Luật Quốc hội (2010), Luật Viên chức số 58/2010/QH12, Hà Nội, quy định tại Điều 2: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [4]. 10 Viên chức nhà nước, nói một cách đơn giản, là người lao động được Nhà nước tuyển chọn và bổ nhiệm vào một vị trí nhất định trong các đơn vị sự nghiệp công và được trả lương từ quỹ lương của đơn vị này.
Nghề nghiệp của họ là chuyên môn, nghiệp vụ mà họ đã được đào tạo để thực hiện công việc theo chức năng được giao. Chức nghiệp là cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ được xếp hạng dựa trên trình độ đào tạo, kinh nghiệm, và năng lực thực tiễn mà viên chức đã tích lũy trong quá trình làm việc.