CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Khái quát về tạo động lực làm việc cho giảng viên 1. Động lực làm việc cho giảng viên 1. Khái niệm về động lực Động lực là khái niệm có nội hàm rất rộng, có nhiều quan điểm khi định nghĩa về nó.
Theo Jerris (1999), mục tiêu hàng đầu của quản trị nguồn nhân lực là thúc đẩy sự tham gia tích cực của nhân viên trong công việc, tạo cảm giác hài lòng và khơi gợi động lực cao cấp để họ cống hiến tối đa cho tổ chức. Nói cách khác, tạo động lực cho nhân viên để họ tận tâm đóng góp cho sự phát triển của tổ chức là mục tiêu chính của các công cụ quản trị nguồn nhân lực. [38] Theo Kendra (2023), thuật ngữ “động lực” mô tả lý do tại sao một người thực hiện một hành động cụ thể. Động lực là lực thúc đẩy hành động của con người, đồng thời nó còn là quá trình khởi xướng, định hướng và duy trì các hành vi với mục tiêu cụ thể.
[37] Theo Nguyễn Hữu Thân (2003), “động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”. [31] Tác giả Bùi Anh Tuấn (2009) đã viết về động lực lao động trong Giáo trình Hành vi tổ chức như sau: “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.” [36] 12 Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2010), “động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người và nhằm tăng sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.” Có thể nói, động lực là bao gồm tất cả lý do khiến con người hành động. [5] Động lực này xuất phát từ bên trong bản thân mỗi người, được sinh ra từ nhu cầu.
Khi nhu cầu xuất hiện, mục tiêu bên trong chủ thể cũng được hình thành và khiến cá nhân tìm cách để thỏa mãn những nhu cầu đó. Động lực làm việc có thể hiểu là sự khát khao và tự nguyện của chủ thể trong việc thực hiện các hành vi nhằm đạt được mục tiêu riêng của họ, đồng thời liên kết với mục tiêu tổ chức. Bên cạnh đó, động lực làm việc được hình thành và thúc đẩy biểu hiện bởi môi trường làm việc và điều kiện công việc. Nếu môi trường làm việc phù hợp với sở thích, nhu cầu của cá nhân, có sự sáng tạo và có tính thú vị, thì động lực của mỗi người sẽ cao hơn so với môi trường làm việc không phù hợp, khắc nghiệt và kém thú vị.
Tương tự, nếu điều kiện công việc được cải thiện, ví dụ như cơ sở vật chất đáp ứng được yêu cầu công việc, mức lương xứng đáng với năng lực, công sức của người lao động hay cung cấp thêm các phúc lợi cho người lao động, thì động lực làm việc của họ sẽ tăng lên. Như vậy, động lực làm việc là một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu về hành vi của con người trong môi trường lao động. Theo quan điểm của tác giả, động lực làm việc là sự thúc đẩy, khao khát, tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường những nỗ lực của bản thân để đạt được những mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Khái niệm về giảng viên Giảng viên là người có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, là người có trách nhiệm cao và có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức cho sinh viên.
Họ phải có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm trong lĩnh 13 vực mình giảng dạy, cũng như phải có khả năng truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả và giúp sinh viên hiểu bài học một cách tốt nhất. Theo Phạm Thành Nghị (2011), giảng viên là một chuyên gia trong lĩnh vực khoa học, có kiến thức sâu rộng về phương pháp giảng dạy và giáo dục và thạo việc sử dụng các công cụ kỹ thuật trong quá trình dạy học. Họ liên tục tự nâng cao kỹ năng chuyên môn, tham gia tích cực vào nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng đồng xã hội. [21] Theo tác giả Nguyễn Văn Lượt (2013), Giảng viên đại học chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn sinh viên trong quá trình tự quản lý, tự điều khiển và tự điều chỉnh hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và đạo đức cá nhân của họ.
Qua việc này, họ giúp sinh viên phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, đồng thời thúc đẩy sự phát triển tâm lý và nhân cách của sinh viên. [19] Luật Giáo dục Đại học, Điều 54 quy định: “Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ; có trình độ đáp ứng quy định của Luật này, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.” Đồng thời, giảng viên còn là viên chức nhà nước. Theo Luật viên chức, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng cho các vị trí công việc cụ thể và làm việc tại các tổ chức sự nghiệp công lập theo hợp đồng làm việc, nhận mức lương từ quỹ lương của tổ chức sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ví dụ, giảng viên đại học công lập là viên chức có chuyên môn cụ thể, đảm nhận nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở bậc đại học hoặc sau đại học và họ thuộc vào một trong các lĩnh vực đào tạo của trường đại học công lập.
[28] [27] Như vậy, khái niệm giảng viên được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng tựu chung lại, giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học nhằm mục đích truyền thụ kiến thức và kỹ năng cho người học. Giảng viên phải có khả năng tạo môi trường học tập tích 14 cực và đáp ứng nhu cầu học tập của người học, bao gồm cả khả năng hỗ trợ và giải đáp thắc mắc. Vì vậy, giảng viên đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục và thành công toàn diện của Nhà trường. Sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên trong hệ thống giáo dục không chỉ giới hạn ở việc truyền đạt kiến thức, mà còn bao gồm cả việc thúc đẩy sự phát triển cá nhân, hình thành những giá trị đạo đức và hỗ trợ sự thành công của sinh viên trong hành trình học tập và nghiên cứu.
Khái niệm động lực làm việc của giảng viên Theo Stee và Poster (1983), động lực làm việc của giảng viên là sự ham muốn và ý thức tự giác để nỗ lực tăng cường và tiến gần hơn đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Nó biểu thị sự sẵn sàng, kiên định và đầy bền bỉ trong quá trình thực hiện công việc. [41] Theo Ramachandran (2005), giảng viên có động lực làm việc là những người thường hiện diện tại trường, tận tâm trong việc chia sẻ kiến thức với học viên và đặt sự truyền đạt tri thức lên hàng đầu, đánh giá cao hơn việc tương tác với học viên và phụ huynh. [42] Theo bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Dung (2019), tác giả cho rằng “động lực lao động của giảng viên đại học là sự thúc đẩy khiến cho giảng viên đại học nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo năng suất và hiệu quả lao động cao, nhằm đạt được mục tiêu của bản thân người giảng viên gắn liền với đạt mục tiêu của trường đại học”.
[7] Như vậy, động lực làm việc của giảng viên là tất cả những yếu tố kích thích và thúc đẩy người giảng viên tích cực trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân cũng như mục tiêu của tổ chức. Thông qua các công việc cụ thể, động lực làm việc của giảng viên có thể được thể hiện qua những sản phẩm nghiên cứu hay chất lượng đầu ra của người học. Những yếu tố cấu thành động lực làm việc của giảng viên Động lực làm việc của người lao động, cụ thể là giảng viên, được cấu thành bởi nhiều yếu tố. Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, các yếu tố được đề cập theo nhiều nội dung khác nhau.
Theo bài nghiên cứu của Muhammad và Sabeen (2011), các yếu tố cấu thành nên động lực làm việc của giảng viên bao gồm tình trạng thu nhập, tầm quan trọng trong xã hội, sự tự tin, ưu đãi và phần thưởng. [39] Phạm Thị Tân và cộng sự (2018) đã có nghiên cứu về các yếu tố tác động đến động lực làm việc của giảng viên Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Khảo sát được thực hiện trên 251 phiếu điều tra là các giảng viên đang công tác tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng bao gồm Lãnh đạo, sự công bằng trong thu thập, đồng nghiệp, sinh viên, thăng tiến, công việc, ghi nhận, xã hội.
[30] Như vậy, có nhiều yếu tố cấu thành động lực làm việc của giảng viên, tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này có thể khái quát thành hai nhóm chính, đó là các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong. a) Các yếu tố bên ngoài, bao gồm: Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước và các chính sách, công cụ tạo động lực mà các trường đại học đang áp dụng. Có thể thấy, sự đầy đủ và khách quan của các quy định, chính sách, pháp luật Nhà nước này sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho đội ngũ giảng viên yên tâm và tập trung vào công tác chuyên môn. Những quy định này cũng giúp đảm bảo rằng giảng viên sẽ được đối xử công bằng và có chế độ làm việc tốt nhất có thể.
Như vậy, đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến động lực làm việc của giảng viên. Mặt khác, các trường đại học đang liên tục triển khai các chính sách và công cụ tạo động lực nhằm đạt được hiệu quả tối đa cho đội ngũ giảng viên. Điều này sẽ đóng góp vào việc củng cố mối quan hệ giữa giảng viên và Nhà 16 trường, đồng thời giúp giảm thiểu hiện chảy máu chất xám trong các trường đại học.