Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức 2008 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019) “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…”. [16] Theo Điều 9 Nghị định 06/2010/NĐ-CP, công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội, làm việc tại 4 cấp (1.
Công chức quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này không bao gồm người đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.) [4] Như vậy, công chức làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội cũng là đối tượng được tuyển dụng và làm việc ổn định lâu dài; thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý công chức. Đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân cấp quản lý được quy định tại Điều lệ của tổ chức. Khái niệm động lực Có rất nhiều tiếp cận và cách hiểu khác nhau về động lực: Trong tiếng Anh, thuật ngữ động lực là “motivation” có nguồn gốc từ tiếng latinh “motus”, một dạng của động từ “movere” với ý nghĩa là chuyển động, thúc đẩy, ảnh hưởng, phấn chấn. Chiristal Batal cho rằng, “động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu 18 mong đợi.
Từ định nghĩa này, có thể hiểu động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động, vì thế nó có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi con người”, còn tác giả Guay, Fetal và các cộng sự (2010) khẳng định “động lực là lý do để thực hiện hành vi”. Ở Việt Nam, động lực cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Dưới góc độ tâm lý, có thể hiểu động lực là “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định đúng xu hướng của nó”. Theo PGS, TS Nguyễn Ngọc Quân, ThS.
Nguyễn Văn Điềm cho rằng “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”.TS Bùi Anh Tuấn “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. Động lực được thể hiện thông qua sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc để được mục tiêu của người lao động và của tổ chức. [20, tr181] Như vậy, động lực không chỉ được sử dụng để mô tả hành vi của con người mà nó còn được sử dụng để giải thích nguyên nhân của hành vi con người. Từ các định nghĩa trên, có thể thấy động lực là trạng thái tâm lý bên trong, thúc đẩy hành vi của con người thỏa mãn các nhu cầu và cố gắng đạt được mục tiêu đã đề ra.
Khái niệm tạo động lực làm việc cho công chức - Động lực làm việc: Dưới góc độ quản lý nguồn nhân lực, “động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [30, tr134] Theo quan điểm về hành vi tổ chức của PGS, TS. Bùi Anh Tuấn “động lực làm việc là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định xu hướng của nó”. [20, tr181] 19 Động lực làm việc là sự thúc đẩy con người hăng say làm việc, giúp họ phát huy được khả năng tiềm ẩn của bản thân, vượt qua được những thách thức khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Động lực lý giải cho lý do tại sao cá nhân lại có hành động như vậy.
Một cá nhân bắt tay vào làm việc mà không cần có sự cưỡng bức, thúc giục thì khi đó họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên kỳ vọng ở họ. Động lực làm việc thường thể hiện ở sự chăm chỉ, bền bỉ và nhiệt tình. [22, tr1] Trong phạm vi khu vực nhà nước, động lực làm việc được hiểu là sự thúc đẩy làm cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc tốt, hướng mọi nỗ lực vào việc hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất. Động lực làm việc được cấu thành bởi ba thành tố gồm: cường độ (mức độ nỗ lực), định hướng (hướng tới lợi ích của tổ chức), thời gian (sự bền bỉ, dẻo dai) và được biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau như: sự bền bỉ, sự nhiệt tình, chăm chỉ.
Tạo động lực làm việc phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của cán bộ, công chức, viên chức bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, hướng tới việc thỏa mãn những mong muốn chính đáng, tạo sự phấn khởi, hăng say, nỗ lực hoàn thành công việc một cách tốt nhất cho cán bộ, công chức, viên chức. Từ những định nghĩa trên, có thể thấy: Động lực làm việc là trạng thái cảm xúc của người lao động nhằm định hướng hành vi thực hiện các hành động có chủ đích để đạt được mục tiêu của bản thân đề ra và phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc của công chức: Động lực làm việc của công chức được xuất phát từ khát khao và sự tự nguyện, điều đó thôi thúc công chức làm việc hăng say, nỗ lực hết mình hướng tới mục tiêu chung của tổ chức, hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội. Đây là điểm khác biệt so với động lực làm việc của người lao động trong các tổ chức khác.
Có thể nhận thấy động lực làm việc thông qua các biểu hiện sau: (1) Nhận thức, định hướng giá trị nghề nghiệp và nhận thức cá nhân về tính chất, yêu cầu của công việc, (2) Thái độ làm việc, (3) Hành động, hành vi của đội ngũ công chức, (4) Kết quả lao động, kết quả làm việc của người công chức. Tạo động lực làm việc cho công chức: 20 Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực làm vệc nhưng về cơ bản đều xuất phát từ những điểm chung sau: Giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Lê Thanh Hà (2009) khẳng định “tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó” [22, tr145]. Giáo trình tâm lý học của tác giả Lương Văn Úc (2011) “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản ý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức”. Theo tác giả Trần Thị Hồng (2018) cho rằng “Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp”.
Một nhân viên có động lực sẽ xác định mục tiêu cần đạt được thì người đó sẽ sử dụng những nguồn lực của tổ chức sẽ một cách hiệu quả. Các nhà quản lý biết cách tạo động lực tích cực sẽ làm cho hiệu suất lao động trong tổ chức cao hơn. Như vậy tạo động lực làm việc cho công chức được hiểu là hệ thống các công cụ, phương tiện, chính sách,…do tổ chức sử dụng nhằm khuyến khích công chức nâng cao hiệu quả làm việc và gia tăng mức độ hài lòng trong công việc. Đặc điểm công việc của công chức làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội Về cơ bản công chức làm việc trong khu vực công đều phải thực hiện các nhiệm vụ theo quy định chung của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, do đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, công việc của công chức tổ chức chính trị - xã hội sẽ có một số điểm khác nhau so với các cơ quan nhà nước, cụ thể như sau: Tính chất chính trị và xã hội: Công việc của công chức trong các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ tập trung vào các nhiệm vụ hành chính mà còn gắn liền với các mục tiêu chính trị và xã hội. Những công chức này thường được thực hiện gắn liền 21 với nhiệm vụ của tổ chức nhằm thúc đẩy mục tiêu, đường lối của Đảng, nhà nước và phục vụ lợi ích của cộng đồng. Phục vụ cộng đồng và hội viên: Các công chức trong tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ chính là phục vụ hội viên/đoàn viên và đối tượng mà tổ chức hướng tới. Điều này đòi hỏi họ phải thấu hiểu nhu cầu, nguyện vọng của người dân, đặc biệt là các tầng lớp yếu thế trong xã hội, để có thể xây dựng và triển khai các chính sách phù hợp.
Công việc mang tính phức tạp và đa dạng: Các nhiệm vụ mà công chức trong tổ chức chính trị - xã hội thực hiện thường liên quan đến nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ quyền lợi của hội viên/đoàn viên và người lao động. Vì vậy, công chức phải có kiến thức sâu rộng và khả năng phối hợp với nhiều ban, ngành khác nhau.