Đặt vấn đề. Chương này trình bày bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước. Chương này trình bày các khái niệm về đại biểu HĐND, văn hóa tổ chức, động lực phụng sự công, mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và động lực phụng sự công, giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, điều chỉnh thang đo, chọn mẫu, kích thước mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày kết quả thống kê mô tả dữ liệu khảo sát, kiểm tra độ tin cậy của bảng hỏi, phân tích khám phá nhân tố EFA, phân tích hồi quy để kiểm định mối quan hệ các giả thuyết.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách để tạo động lực phụng sự công của đại biểu HĐND các cấp tỉnh Cà Mau, nhiệm kỳ 2016-2021 và những hạn chế của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Đại biểu HĐND Theo khoản 2, Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND”.2 Văn hóa tổ chức Có nhiều khái niệm về văn hóa tổ chức.
Khái niệm "văn hóa tổ chức" (Organization Culture) được tổng - tích hợp từ hai khái niệm "văn hóa" và "tổ chức". Khi kết hợp thành khái niệm "văn hóa tổ chức", dù nghĩa đã được khu biệt, hẹp lại nhưng vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau. Sau đây là một số khái niệm đã được công bố và sử dụng phổ biến: Theo Eldrige và Crombie (1974) khi nói “đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử. được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc.
Đặc trưng của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người. Điều đó chứng tỏ ở sự khác nhau” giữa việc đi theo thói quen, luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như sự lựa chọn chiến lược cho tổ chức. Theo Hofstede (1980) và Schein (1985) trích trong Prajogo và McDermott (2011) văn hóa tổ chức do nhiều cá nhân tạo nên. Văn hóa tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức.
Những quan niệm này phần lớn được các thành viên tự xác định trong nhận thức, hành vi ứng xử và chỉ thích hợp cho tổ chức riêng và được họ duy trì, lan truyền cho các thành viên mới trong môi trường làm việc, tạo nên giá trị, niềm tin, nguyên tắc hoạt động cốt lõi của tổ chức. Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách thức hoạt động riêng của từng tổ chức. 6 Theo Detert và cộng sự (2000, tr. 851) trích trong Prajogo và McDermott (2011) văn hoá tổ chức bao gồm một số sự kết hợp của của thói quen, biểu tượng, giá trị, niềm tin được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức.
Văn hóa tổ chức là “các định hướng giá trị, các chuẩn mực đạo đức, các quan niệm về sứ mệnh và vai trò của tổ chức trong xã hội mà các thành viên của tổ chức tán thành; tổ hợp các thủ thuật và các quy tắc giải quyết vấn đề thích nghi ở bên ngoài và thống nhất ở bên trong của các thành viên tổ chức. Văn hóa tổ chức là các tiêu chuẩn giá trị, niềm tin, cách ứng xử. được thể hiện qua thái độ, hành vi của các thành viên liên kết với nhau để thực hiện chức” năng, nhiệm vụ của tổ chức. Theo Cameron & Quinn (1999) trích trong Panagiotis và cộng sự (2014) có 04 loại văn hóa: Văn hóa gia đình (Clan culture), văn hóa sáng tạo (Adhocracy culture), văn hóa thứ bậc (Hierarchy culture), văn hóa thị trường (Market culure): - Văn hóa gia đình: Là môi trường thân thiện giữa tất cả các cấp quản trị, từ lãnh đạo tới nhân viên; chú trọng đến làm việc nhóm, người lãnh đạo đóng vai trò như một người thầy, người cha trong gia đình; tổ chức được gắn kết bằng những yếu tố truyền thống, quan hệ bền vững giữa các cá nhân.
- Văn hóa sáng tạo: Không chú trọng nhiều đến các nguyên tắc hay quy định, đây là loại văn hoá nhằm thúc đẩy việc chấp nhận rủi ro và đổi mới giữa các thành viên, tập trung vào sự tăng trưởng của cơ quan, đơn vị thông qua sự đổi mới, nhấn mạnh vào môi trường bên ngoài, về những thay đổi về công nghệ, tăng trưởng, những nguồn lực mới. - Văn hóa thứ bậc: Thể hiện mối quan hệ giữa các cấp có tính trật tự và luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định do tổ chức đặt ra. - Văn hóa thị trường: Chú trọng đến kết quả cuối cùng, thể hiện năng lực cạnh tranh không chỉ là cạnh tranh giữa đơn vị với đối thủ mà còn là sự cạnh tranh giữa các bộ phận, giữa các nhóm và thậm chí giữa từng cá nhân trong đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ, đạt và vượt mục tiêu đề ra luôn là ưu tiên số một. Theo Quinn and Spreitzer (1991) trích trong Prajogo và McDermott (2011) có 04 loại văn hóa: Văn hóa thứ bậc (Hierarchical culture), văn hóa nhóm (Group 7 culture), văn hóa phát triển (Developmental culture), văn hóa hợp lý (Rational culture).
Dựa trên lý thuyết về khung giá trị các loại văn hóa, so sánh mức độ phân cực của tổ chức về tính kiểm soát so với tính linh hoạt và mức độ tập trung nội bộ so với bên ngoài, chia văn hóa tổ chức thành 4 loại: Tính linh hoạt Văn hóa phát triển Văn hóa nhóm Sự linh hoạt Làm việc theo nhóm Sự phát triển Sự tham gia Đổi mới Bên ngoài Trao quyền Sáng tạo Mối quan tâm cho ý tưởng Nội bộ Điều khiển Nhiệm vụ tập trung Chính thức hoá Rõ ràng Tính ổn định Hiệu quả Kết quả dự đoán Hiệu suất Văn hóa thứ bậc Văn hóa hợp lý Tính kiểm soát Hình 2.1 Khung giá trị các loại văn hóa Nguồn: Prajogo và McDermott (2011) Khung giá trị này cho rằng văn hóa có hai hướng, đầu tiên là tính linh hoạt và kiểm soát, thứ hai là phân biệt xu hướng của tổ chức hướng nội bộ và hướng bên ngoài. Sự kết hợp của hai chiều tạo đặc tính văn hoá trong mỗi 4 góc tọa độ: - Văn hóa thứ bậc: Hướng đến môi trường làm việc có cấu trúc, ổn định và được kiểm soát chặt chẽ; có các chính sách, quy định rõ ràng, nghiêm ngặt; nhân viên hoạt động theo các quy định và chịu sự lãnh đạo của cấp trên. - Văn hóa nhóm: Nhấn mạnh “làm việc nhóm và sự phát triển của nhân viên, trao quyền cho nhân viên bằng cách thu hút sự tham gia, sự cam kết và lòng trung thành của họ. Qua làm việc nhóm, qua sự tham gia và đồng thuận của nhân viên, người ta có thể tạo ra một không khí nội bộ quan tâm đến con” người.
- Văn hóa phát triển: Hướng đến sự đổi mới, sáng tạo, linh hoạt, thích nghi, không có hình thức tập trung quyền lực hay quan hệ dựa trên thẩm quyền. 8 - Văn hóa hợp lý: Tập trung vào mục tiêu của tổ chức, sự kiểm soát, việc lên kế hoạch, vạch ra kế hoạch, mục tiêu và tính đến hiệu quả của công việc. Cũng theo Quinn và Kimberly‟s (1984) trích trong Moynihan và Pande (2007), các loại văn hóa tổ chức gồm: Văn hóa nhóm, văn hóa phát triển, văn hóa thứ bậc và văn hóa hợp lý. Văn hóa nhóm lấy trọng tâm là con người thay vì tổ chức, là sự linh hoạt thay vì hành vi kiểm soát, là sự liên kết giữa người lao động và tinh thần của con người.
Văn hóa phát triển lấy trọng tâm là tổ chức, sự linh hoạt, sự thích ứng và sẵn sàng, sự phát triển và giành được những nguồn lực. Văn hóa thứ bậc lấy trọng tâm là con người, sự kiểm soát, sự quản lý thông tin, liên lạc và tính ổn định của tổ chức. Cuối cùng, văn hóa hợp lý tập trung vào những mục tiêu của tổ chức, sự kiểm soát, việc lên kế hoạch, vạch ra mục tiêu và tính hiệu quả. Với những ý nghĩa trên, văn hóa tổ chức có thể hiểu là các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của tổ chức, lan tỏa trong môi trường làm việc; đóng vai trò gắn kết các thành viên, tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện, các thành viên trong tổ chức nên ứng xử, hành động như thế nào.
Các yếu tố văn hóa được chọn lọc có vai trò như một cơ chế khẳng định giá trị của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức, giữa thành viên với lãnh đạo, giữa tổ chức với những nhân vật hữu quan bên ngoài. Dựa trên các loại văn hóa tổ chức gồm: Văn hóa nhóm, văn hóa phát triển, văn hóa thứ bậc và văn hóa hợp lý theo phân loại của Quinn và Kimberly‟s (1984) trích trong Moynihan và Pande (2007), trong các tổ chức công tại Việt Nam có sự kết hợp của cả văn hóa nhóm, văn hóa phát triển, văn hóa thư bậc và văn hóa hợp lý. Các tổ chức công chú trọng đến phát triển cho cán bộ, công chức nói chung, đại biểu HĐND nói riêng, tạo điều kiện cho học tập nâng cao trình độ, môi trường làm việc thân thiện, có nhiều hoạt động tập thể để gắn kết. Mặt khác, đại biểu HĐND cũng có nhiều sáng kiến, giải pháp trong công việc nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Bên cạnh đó, trong tổ chức công có sự phân cấp, phân quyền rõ ràng, 9 nhiều quy chế, quy trình, quy định được ban hành buộc đại biểu HĐND thực hiện nghiêm túc.