CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản Theo giáo trình về hành vi tổ chức, động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó [69]. Hay, động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [76].
Có thể hiểu “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều mong muốn và kỳ vọng vào người lao động một thái độ làm việc hăng say và đạt hiệu quả chất lượng công việc. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào người lao động cũng sẽ luôn giữ được tinh thần làm việc tốt nhất có thể. Có thể có những lúc hăng say nhưng cũng có những lúc họ lại lơ là trong công việc.
Có rất nhiều yếu tố tác động làm thay đổi thái độ làm việc của người lao động, nhưng trước khi nghiên cứu tới vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn về các khái niệm liên quan đến tạo động lực cho người lao động. Kiến trúc sư - Đội ngũ Kiến trúc sư Kiến trúc sư là người làm nghiên cứu, thiết kế mặt bằng, không gian, hình thức và cấu trúc của một công trình hay thiết kế quy hoạch của vùng, của khu 11 dân cư, khu công nghiệp, cảnh quan đô thị. Kiến trúc sư được đào tạo theo các chuyên ngành như: Quy hoạch; Công trình; Cảnh quan; Quản lý đô thị…. Từ “kiến trúc sư” xuất phát từ architectus trong tiếng Latin và từ arkhitekton trong tiếng Hy Lạp, đây là kết hợp của arkhi, có nghĩa là "người chính, người thợ cả", và tekton, có nghĩa là "người thợ nề, người thợ mộc".
Trong tiếng Việt, “kiến trúc” có thể xem hợp thành từ “kiến tạo”, thể hiện sự sáng tạo ra cái mới, và “cấu trúc”, thể hiện sự bố trí sắp xếp hợp lý. Vì thế, kiến trúc sư được hiểu theo nghĩa là người kiến tạo ra công trình với cấu trúc mới lạ và đẹp mắt. Đội ngũ Kiến trúc sư được hiểu là tập hợp một số những Kiến trúc sư với các chuyên ngành nêu trên, có các mối liên hệ về mặt tổ chức, chuyên môn để cùng hướng tới mục đích chung đó là tạo ra sản phẩm tốt nhất theo yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Nhu cầu Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hoặc tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của 12 cá nhân.
Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Lợi ích Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định. “Lợi ích càng lớn càng thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, động lực lao động càng được tạo ra.”[3,tr143] Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện.
Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn nó.
Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Chuỗi mắt xích nhu cầu – mong muốn – thỏa mãn (Nguồn: Phạm Vũ Luận, 2008, Quản trị doanh nghiệp thương mại, Hà Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội) 1.4 Động cơ 13 Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn các nhu cầu cá nhân. “Động cơ của người lao động lại xuất phát từ việc mong muốn thoả mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động: nhu cầu ăn, mặc, đi lại, phát triển, được tôn trọng[3,tr142]. Động cơ lao động được thể hiện ở: Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động.
Vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người. Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết và nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể.
Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau.
Khi quan sát quá trình làm việc của người lao động, người ta nhận thấy có những cá nhân làm việc rất tích cực, trong khi đó có những cá nhân làm việc không tích cực. Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do động cơ lao động của các cá nhân khác nhau. Với người lao động có động cơ cao họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ có chất lượng lao động cao và ngược lại. Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác 14 nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.
Động cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi: Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực, do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian. Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy để người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động.Qua đó, để đạt được hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định được động cơ của người lao động, hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động ở từng giai đoạn phát triển của họ mức độ nào, từ đó có thể đưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý. Động lực lao động Có rất nhiều quan niệm về động lực lao động: Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu.
Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Ngoài ra, còn rất nhiều giáo trình về công tác Quản lý nhân sự, trong đó có bàn về động lực và tạo động lực cho người lao động, cho công chức hành chính nhà nước của tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình Quản trị nhân lực, Giáo trình tạo động lực của Học viện Hành Chính Quốc Gia. 15 Theo từ điển kinh tế xã hội Việt Nam: Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực lao động, nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.Từ các cách tiếp cận như trên, trong nghiên cứu này, khái niệm động lực lao động được nhìn dưới khía cạnh: Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi sự nỗ lực của của bản thân để đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, động lực lao động có được không xuất phát từ bất kì một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm người lao động.