CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm Động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực Con người luôn có những nhu cầu thiết yếu và đó cũng là động cơ thúc đẩy mọi hành vi, hoạt động của con người trong xã hội.
Động cơ của con người được xác định là những nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thôi thúc cá nhân hướng tới mục đích. Nếu động cơ là yếu tố bên trong quyết định thì động lực là yếu tố biểu hiện ra bên ngoài nhằm thực hiện động cơ đó. Vậy động lực là gì? lại có ảnh hướng đến hiệu quả làm việc của cá nhân, tổ chức như vậy. Hiện nay có rất nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về động lực: Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức [4, tr128].
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao [17, tr85]. Theo từ điển Tâm lý học “Động lực là cách thúc đẩy hành động gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trọng và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” Theo quan điểm của các học giả trên thế giới thì “Động lực” được hiểu theo Maier và Lawder (1973) “Động lực là sự khác biệt và tự nguyện của mỗi cá nhân. Theo Higgin (1994) “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Theo Kreitner (1995) “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
8 Tóm lại, từ những quan điểm trên ta có thể hiểu “Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, động viên, khuyến khích để con người có thể nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu”. Khái niệm về tạo động lực làm việc - Khái niệm về động lực làm việc Theo định nghĩa của từ điển tiếng Anh Longman: “Động lực làm việc là động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi”. Trong tác phẩm “Động lực: các lý thuyết mới, nghiên cứu và thực tiễn” viết năm 1982, Mitchell khẳng định “động lực làm việc có thể hiểu là những lực đẩy bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đó”. Theo định nghĩa của từ điển tiếng Anh Longman và tác phẩm “Động lực: các lý thuyết mới, nghiên cứu và thực tiễn” viết năm 1982, ta có thể hiểu: động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Một người có động lực làm việc, họ làm việc tích cực, có hành vi tự định hướng vào các mục tiêu quan trọng và họ có thể làm được nhiều hơn điều mà tổ chức mong chờ ở họ. - Khái niệm về tạo động lực làm việc Một số khái niệm về tạo động lực làm việc: Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th.S Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc” [4, tr135]. 9 “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức. Theo giáo trình hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn, NXB Kinh tế quốc dân 2004 “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc” [17,tr145].
Theo quan điểm của tác giả “tạo động lực là tổng thể các biện pháp, chính sách, cách thức của chủ thể quản lý tác động vào người lao động nhằm động viên, khuyến khích khả năng làm việc với tinh thần, trách nhiệm làm việc để hoàn thành công việc hiệu quả cao nhất”. Mục đích và vai trò của việc tạo động lực làm việc - Mục đích của việc tạo động lực làm việc Thứ nhất: làm cho tổ chức sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra. Thứ hai: khuyến khích, thúc đẩy người lao động làm việc một cách sáng tạo và hiệu quả nhất. - Vai trò của việc tạo động lực làm việc Động lực làm việc có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả làm việc của mọi tổ chức, nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, việc tạo động lực làm việc cho người lao động là mối quan tâm của nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực công, hay lĩnh vực tư nhân.
Việc tạo động lực cho người lao động nhằm mục đích là thúc đẩy sự hăng say để người lao động nỗ lực hết mình phát huy khả năng của bản thân để công hiến cho tổ chức. Công tác tạo động lực cho người lao động có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của cơ quan, tổ chức. Muốn tạo sự phát triển trong tương lai thì cơ quan, tổ chức không thể không quan tâm đến vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động. Việc xây dựng các chính sách tạo động lực làm 10 việc cho cán bộ, công chức chính là việc tạo ra các đòn bẩy để khuyến khích tinh thần, nâng cao phát triển hiệu suất lao động cho cán bộ, công chức.
Tạo động lực làm việc chính là tạo ra những hấp dẫn trong công việc, sự hấp dẫn càng lớn thì động lực người lao động càng lớn. Khi đó người lao động càng hăng say, nỗ lực làm việc để đạt được lợi ích đó. Do đó các nhà lãnh đạo, quản lý cần quan tâm tạo động lực cho người lao động để hướng hành vi của người lao động theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định và mang lại sự hiệu quả trong công việc. Như vậy nhà lãnh đạo, quản lý muốn nhân viên trong tổ chức của mình luôn nhiệt tình, nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng các biện pháp khuyến khích hiệu quả đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện tốt nhất cho người lao động hoàn thành công việc.
Các học thuyết về tạo động lực làm việc Việc tiếp cận các học thuyết tạo động lực làm việc dưới góc độ khoa học của các nhà khoa học quản lý trên thế giới giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý có cơ sở để vận dụng các học thuyết đó một cách khoa học, hợp lý với tổ chức của mình để sử dụng một cách hiệu quả cao nhất các nguồn lực, khuyến khích cấp dưới làm việc mang lại hiệu quả cao nhất trong tổ chức mình. Thuyết về hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ, thông qua sự nghiên cứu về nhu cầu và sự tự nhận thức về nhu cầu tự nhiên của con người đã đưa ra học thuyết phân cấp nhu cầu. Maslow cho rằng hành vi con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp lên cao, bao gồm các nhu cầu sau đây: - Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, ở… 11 - Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự an toàn, không bị đe dọa về sức khỏe, tài sản, công việc… - Nhu cầu xã hội: các nhu cầu về tình yêu, bạn bè, được chấp nhận là thành viên trong nhóm và trong xã hội - Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về được người khác tôn trọng, có địa vị… - Nhu cầu tự hoàn thiện: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, đạt được tất cả những gì mình có thể đạt tới, khai thác hết những tiềm năng, năng lực của một người. Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp.
Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn, các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, được tôn trọng và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người. Maslow cho rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ hơn so với việc làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp cao vì các nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể được thỏa mãn từ bên ngoài. Ông còn cho rằng đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp hoạt động, nó đòi hỏi được thỏa mãn và như vậy nó là động lực thúc đẩy con người hành động - nó là nhân tố động viên.
Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì nó không còn là yếu tố động viên nữa, lúc đó các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện [7, tr253]. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị đó là muốn động viên người lao động thì điều quan trọng là nhà quản trị phải hiểu người lao động đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép bạn đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động đồng thời đảm bảo đạt đến các mục tiêu của tổ chức. 12 Nhu cầu Nhu hoàn cầu thiện bậc Nhu cầu đượctôn cao trọng Nhu cầu xã hội Nhu Nhu cầu an toàn cầu bậc Nhu cầu sinh lý thấp Hình 1.
Hệ thống thang bậc của Maslow Như vậy, qua thuyết về hệ thống thức bậc các nhu cầu của Abraham Maslow cho thấy một trong những yếu tố quan trọng nhất để công chức có động lực làm việc đó là được đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu của bản thân.