Chương 1: Lý luận về tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức cấp xã ở huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Chương 3: Đề xuất giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. 8 Luan van Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Động lực và động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về động lực. Theo quan điểm của theo Maier và Lawder thì “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân”. Theo Higgin “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn” [23, tr.
Theo Kreitner “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định” [24, tr. Theo từ điển Tâm lý học “Động lực là cách thúc đẩy hành động gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [13, tr. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của PGS. Bùi Anh Tuấn, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2004 thì“Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [19, tr.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Ths. Nguyễn Vân Điềm – PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân thì “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” [5, tr. Từ các cách hiểu trên, có thể hiểu một cách chung nhất như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, động viên, khuyến khích con người nỗ lực cao nhất để thực hiện hành vi theo mục tiêu.
Khái niệm về động lực làm việc Cũng như “Động lực”, có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về động lực làm việc, có thể kể đến như: Định nghĩa theo từ điển tiếng Anh Longman: “Động lực làm việc là động lực có ý thức hay vô thức khơi dạy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi” [20]. Trong tác phẩm “Động lực: các lý thuyết mới, nghiên cứu và thực tiễn” viết năm 1982, Mitchell khẳng định “Động lực làm việc có thể hiểu là những lực đẩy bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đó” [9] Như vậy ta có thể hiểu: Động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực làm việc xuất phát từ sự khao khát và tự nguyện nên khiến con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong. Một người có động lực làm việc, họ làm việc tích cực, có hành vi tự định hướng vào các mục tiêu quan trọng và họ có thể làm được nhiều hơn điều mà tổ chức mong chờ ở họ.
Tạo động lực làm việc Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc. Theo Lương Văn Úc (2011), Giáo trình tâm lý học lao động, NXB Kinh tế quốc dân “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phán đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức” [21, tr. “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” [8, tr. 10 Luan van Theo giáo trình hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn, NXB Kinh tế quốc dân 2004 “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc” [19, tr.
Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm này được hiểu như sau: “Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động trong thực thi công việc để đạt được các mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao trong điều kiện cho phép”. Công chức cấp xã Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ Nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân. Tuy nhiên, khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định: Hệ thống thể chế chính trị; hệ thống thể chế hành chính; tính truyền thống; sự phát triển kinh tế - xã hội; các yếu tố văn hoá.
Song, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở một nước nào đó thường là công dân của nước đó; họ được tuyển dụng qua thi tuyển hay được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm công chức cũng đã có nhiều lần thay đổi. Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay cắt nghĩa được rõ ràng hơn về khái niệm “công chức”. Theo đó, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà 11 Luan van không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an Nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [16].
Hiện nay Luật cán bộ công chức 2008 đã được sửa đổi, bổ sung, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2020, quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an Nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [17]. Về khái niệm công chức cấp xã, theo quy định hiện hành, công chức cấp xã là những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu vào động lực làm việc của nhóm công chức cấp xã được quy định trong Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08/04/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-CP. Theo đó, bao gồm 7 chức danh chuyên môn sau: (1) Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy; (2) Chỉ huy trưởng quân sự; (3) Văn phòng – thống kê; (4) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị 12 Luan van trấn) hoặc địa chính – xây dựng – nông nghiệp và môi trường (đối với xã); (5) Tài chính – kế toán; (6) Tư pháp – hộ tịch; (7) Văn hóa – xã hội.
Tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã Dựa vào các khái niệm trên tác giả đưa ra khái niệm về tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã như sau: Tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của công chức cấp xã trong thực thi công vụ để đạt được các mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao trong điều kiện cho phép. Mục đích tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã Để có được động lực làm việc cho công chức thì cần tạo động lực làm việc cho công chức đó, để từ đó có thể khuyến khích, động viên, thôi thúc họ luôn nỗ lực, phấn đấu hết mình vì tổ chức. Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của mỗi tổ chức, các nhà lãnh đạo muốn tổ chức mình phát triển thì phải biết phát huy khả năng yếu tố con người trong tổ chức, phát huy sự sáng tạo trong quá trình làm việc. Việc tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã có vai trò vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ cấp xã.
Tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã hướng đến 2 nhóm mục đích: đối với tổ chức và đối với cá nhân công chức.