CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề cơ bản về tạo động lực cho người lao động 1.1 Động lực lao động. Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm viậc nâng cao nắng suất lao động. Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất.
Theo giáo trình QTNL của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”[12; 128] Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [13; 100] Tuy mỗi tác giả đều đưa ra một khái niệm khác nhau, nhưng sự khác biệt này chỉ mang tính hình thức, cả ba khái niệm kể trên đều hướng đến một điểm chung nào đó là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi nỗ lực để đạt được một mục tiêu hoặc kết quả cụ thể nào dó. Vậy ta có hiểu một cách chung nhất về động lực là bao gồm tất cả cái gì thôi thúc con người, tác động đến con người qua đó thúc đẩy con người làm việc. Như vậy, động lực xuất phát từ bản thân mỗi con người.
Khi con người ở những vị trí khác nhau với những tâm lý khác nhau sẽ có mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau vì vậy các nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau tới mỗi người lao động. 18 Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.2 Tạo động lực lao động Động lực lao động có vai trò quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động của cá nhân giúp tổ chức đạt mục tiêu của mình.
Do vậy các nhà quản lý cần biết tạo động lực cho nhân viên để họ làm việc hiệu quả nhất. “Tạo động lực lao động là sử dụng các biện pháp để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất” [9; 113]. Khi có động lực làm việc thì sẽ thực hiện công việc tốt hơn, hiệu quả hơn, năng suất hơn. Từđómới giúp doanh nghiệp, tổ chức tồn tại và phát triển vững mạnh trên thị trường cạnh tranh.Do vây, các nhà lãnhđạo nói chung, các nhà quản lý lao động nói riêng muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất.2 Các học thuyết tạo động lực trong lao động 1.1 Học thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, sắp xếp từ thấp tới cao như sau: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện. Khi nhu cầu này được thoả mãn thì sẽ xuất hiện những nhu cầu khác cao hơn. Hệ thống thang bậc nhu cầu của Maslow: 19 ( Nguồn: Mạng internet) - Các nhu cầu sinh lý: Là các đòi hỏi cơ bản về thứcăn, nước uống, chỗở và các nhu cầu khác. - Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu được ổnđịnh, chắc chắn, được bảo vệ khỏi các điều kiện bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ.
- Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được quan hệ với những người khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hợp tác. - Nhu cầu tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. - Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầuđược trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầuđạtđược các thành tích mới và cóý nghĩa, nhu cầu sang tạo. Học thuyết cho rằng: khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầuđó được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.
Sự thoả mãn nhu cầu của các cá nhân sẽđi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có nhu cầu nào có thểđược thoả mãn hoàn thành nhưng 20 một nhu cầu được thoả mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì thế, theo Maslow, để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đóđang ởđâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng vào sự thoả mãn các nhu cầuđóở bậc đó.2 Học thuyết hệ thống hai yếu tố của Herzberg Khác với Maslow, Herzberg cho rằng không phải nhu cầu nào cũngđóng vai trò là động cơ thúc đẩy. Những nhu cầu khi được đápứng chỉ tạo ra cảm giác hài lòng, không phải là động cơ thúc đẩy, mà chỉ là những yếu tố duy trì. Chỉ những nhu cầu nào khi đáp ứng tạo ra cảm giác thoả mãn thì mới là động cơ thúc đẩy.
Theo Herzberg: - Những yếu tố duy trì bao gồm: chính sách của tổ chức, sự giám sát công việc, điều kiện làm việc, các mối quan hệ công việc, lương, chức vụ và sự an toàn. - Những yếu tố tạo động cơ thúc đẩy gồm: sự thànhđạt, sự công nhận và thừa nhận thành tích, sự thăng tiến và tính hấp dẫn của công việc. Học thuyết này chỉ ra được một loạt các yếu tố tác động đến động lực và sự thoả mãn của người lao động, đồng thời cũng gây ảnh hưởng cơ bản tới việc thiết kế và thiết kế lại công việc ở nhiều công ty. Học thuyết nhu cầu của McCelland David McCelland phân ra 3 loại nhu cầu thúc đẩy cơ bản: - Nhu cầu quyền lực: Những người có nhu cầu cao về quyền lực sẽ quan tâm nhiều tới việc tạo ra sựảnh hưởng, và nói chung họ theo đuổi địa vị lãnhđạo.
- Nhu cầu liên kết: những người có nhu cầu cao về liên kết thường cố gắng duy trì mối quan hệ xã hội dễ chịu, muốn có tình cảm thân thiết và cảm thông, muốn quan hệ qua lại thân mật với những người khác. - Nhu cầu về sự thànhđạt: những người có nhu cầu cao về sự thànhđạt thường có mong muốn mạnh mẽ về sự thành công và cũng sợ thất bại. Họ muốn được thử thách, đề ra cho mình những mục tiêu không dễ, hay phân tích vàđánh giá các vấn đề chứ không mạo hiểm, muốn chịu trách nhiệm cá nhân, muốn tựđiều khiểncác công việc của riêng mình, quan tâm đến kết quả công việc mà họđang làm. Theo quan điểm của Mc Celland thì các nhà lãnhđạo, tức là những người lập ra, phát triển một tổ chức thường tỏ ra có nhu cầu rất cao về quyền lực, khá cao về sự thànhđạt, nhưng lại rất thấp về sự liên kết.
Còn những người lao động thì thường có nhu cầu cao về sự liên kết. Vì vậy, các nhà quản lý ngoài việc cố gắng thoả mãn những nhu cầu vật 21 chất của người lao động, cần tạo ra một bầu không khí tâm lý dễ chịuđoàn kết thân ái để mọi người có thể phối hợp làm việc với nhau tốt hơn. Học thuyết kỳ vọng của V.Room Học thuyết này cho rằng: cường độ của xu hướng hành động theo một cách nàođó phụ thuộc vào độ kỳ vọng vào hành động đó sẽđem đên một kết quả nhất định và tính hấp dẫn của kết quảđó đối với cá nhân. Vì vậy, lý thuyết này về cơ bản bao gồm 3 biến số sau: - Tính hấp dẫn: tầm quan trọng mà cá nhân đặt vào kết quả hay phần thưởng tiềm tàng có thểđạt được trong công việc.
Biến số này xem xét các nhu cầu không được thoả mãn của cá nhân. - Mối liên hệ giữa kết quả và phần thưởng: mức độ cá nhân tin rằng thực hiện công việc ở một mức độ cụ thể nàođó sẽ dẫn đến việc thu được một kết quả mong muốn. - Mối liên hệ giữa nỗ lực và kết quả: khả năng một cá nhân nhận thức được kết quả rằng bỏ ra một nỗ lực nhấtđịnh sẽđem lại kết quả. Bốn bước gắn liền với lý thuyết này: Nỗ lực Kết quả Phần thưởngtổ Mục tiêu Cá nhân cá nhân chức cá nhân Học thuyết gợi ý cho các nhà quản lý rằng cần làm cho người lao động hiểu mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực và thành tích, thành tích và kết quả/phần thưởng cũng như cần tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả/phần thưởng đối với người lao động.5 Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams Stacy Adams cho rằng muốn tạo động lực cho nhân viên thì phải dựa trên cơ sởđánh giá sự công bằng giữa đầu vào vàđầu ra của họ.
Ông khẳngđịnh: người lao động luôn so sánh những gì họ bỏ vào công việc (đầu vào) với những gì họnhậnđược từ công việc đó (đầu ra) và sau đó đối chiếu tỉ suất giữa đầu vào- đầu ra của họ với tỉ suất đầu vào- đầu ra của người khác. Nếu tỉ suất của họ ngang bằng tỉ suất của người khác thì người ta cho rằngđang tồn tại một tình trạng công bằng còn nếu tỉ suất không ngang bằng nhau thì sẽ cho rằngđang tồn tại một tình trạng bất công. Nếu công bằng thì người lao động sẽ không thay đổi hành 22 vi. Nếu không công bằng, người lao động sẽ cố gắng thay đổi sự bất công bằng một trong năm giải pháp sau: - Làm méo mó các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân mình hay của người khác.
- Cư xử theo một cách nàođó để làm người khác thay đổi đầu vào hay đầu ra của họ.