Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người - lao động. Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực cho người _ lao động tại Công ty Cô Phần ĐK XCGĐBỌN. Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị tạo động lực cho người _ lao động tại Công ty Cổ Phần ĐK XCGĐBỌN. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TẠO DONG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.
Tạo động lực lao động 1. Khái niệm động lực lao động, Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức 'Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công. tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đầy người lao động hăng say làm việc nâng cao nang xuât lao động. Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất.
Theo giáo trình Quản Trị Nhân Lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động đề tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong thúc đây con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tô chức, điều này có.
nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong. Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất "Động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực làm việc như một sức mạnh vô.
hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực làm việc chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Suy cho cùng. động lực làm việc trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao.
động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động 1. Khái niệm tạo động lực lao động *Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công. việc” Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tô chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao.
động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phần đấu để đạt được các mục tiêu của bản. thân và tổ chức” Tạo động lực lao động được hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà_ tổ chức mong muốn. động lực làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn phát triên doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hãng _ say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tô chức.
Vấn để quan trọng của tạo động lực là hiểu được nhu cầu của người lao động, để từ đó có biện pháp tạo ra động lực cho người lao động. hãng say, nỗ lực trong quá trình làm việc. Ý nghĩa tạo động lực lao động Đối với cá nhân Tạo động lực rất có ý nghĩa đối với cá nhân người lao động, nếu người lao động làm việc có động lực, họ sẽ hoàn thành công việc xuất sắc và hiệu quả hơn. Người lao động làm việc trong môi trường mà nơi đó nhà quản lý biết cách thúc đầy, tạo cơ hội cho họ làm việc thoải mái.
Từ đó nâng cao hiệu quả công việc và nâng cao thu nhập cho người lao động. Khi làm việc với tỉnh thần thoải mái, làm việc do yêu thích công việc, người lao động sẽ tiềm được niềm vui trong công việc của mình, từ đó tạo ra những giá trị vat chat to lớn hơn, góp phần phát triên cho tổ chức. Đối với tổ chức Một tô chức làm tốt chính sách tạo động lực cho người lao động không những. tăng hiệu quả công việc, nâng cao hiệu quả lao động mà còn giúp người lao động gắn bó với đơn vị hơn, tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài, qua đó tạo thế cạnh tranh hơn cho tổ chức.
Tạo động lực làm việc khiến tỉnh thần hoạt động của nhân viên thoải mái, họ làm việc do động lực thúc đây, cố gắng nỗ lực hoàn thành tốt công việc hơn, giúp tô chức giảm chỉ phí trong tổ chức quản lý “Trong hoàn cảnh chung của đất nước hiện nay, mặc dù mức sống của người lao động không ngừng được nâng cao, tuy nhiên cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, làm phát và giả cả leo thang khiến cuộc sống người lao động có xu hướng làm việc vì vật chất thay vì làm việc với tình yêu cho nghề. Do đó, việc tạo động lực bằng tiền lương, Tiền thương là nguồn động viên cở bản và quan trọng nhất. Tuy nhiên, ngoài lương và các biện pháp thúc đây bằng vật ch hợp nhun nhuyễn với các biện pháp thúc đây lao động bằng tinh thần đề tạo ra kết quả tốt nhất Đối với xã hội 'Việc nguồn nhân lực được tổ chức quan tâm đến các chính sách tạo động lực giúp nguồn nhân lực tăng thêm thu nhập, đảm bảo đời sống cho nguồn nhân lực vẻ cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Điều này sẽ tạo nên một xã hội an ninh, phồn vinh, hạnh phúc.
Ngược lại, nếu nguồn nhân lực không được hỗ trợ các chính sách tốt, thì nguồn nhân lực sẽ chán nản, không yên tâm công tác, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và sẽ kém. Các học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow. Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô.
hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân. Ông nhắn mạnh. 10 rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp tới cao: Nh | clu | | bie | ‘Nhu clu dupe | tôn trọng. | cao Nou clu xd hoi Nhu cau sinh ly: G vi tri thap nhat trong hệ thống.
Đây là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng để thỏa mãn trước tiền. Nếu như chúng ta đang phải chống chọi với cái đói hoặc có những nhu cầu cơ bản như không khí đề thở, giấc ngủ và nước uống.chúng ta sẽ nghĩ tới việc thỏa mãn những nhu cầu này. Khi đó mọi nhu cầu khác sẽ bị đây xuống hàng thứ yếu. Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn.
Ở mức nhu cầu này con người sẽ có những phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân, người lao động sẽ không thích làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà thích được làm việc trong điều kiện an toàn. Nhu cau xa Khi đã thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, được an toàn thì ngay lập tức nảy sinh cấp độ tiếp theo của nhu cầu. Các nhu cầu “xã hội” hay tình cảm lúc đó sẽ trở lên quan trọng, đó là nhu cầu được yêu thương, có tình bạn và được là thành viên của một tập thê nào đó. Nhu cau được tôn trọng: Nhu cầu này bao gồm cả việc cần hay mong muốn có.
được giá trị cao cả của tự động và tôn trọng của người khác. Maslow đã chia ra làm hai loại: Các loại mong muốn về sức mạnh, sự đạt được, lòng tin đối với mọi người, đối i với độc lập, tự do. Loại có mong muốn về thanh danh, uy tín, địa vị, thông trị, được chú ý, được thê hiện mình. Nhu cầu tự hoàn thiện mình: Ông cho rằng “Mặc dù tắt cả các nhu cầu trên được thỏa mãn, chúng ta vẫn cảm thấy sự bất mãn mới và sự lo lắng sẽ xuất hiện, từ khi các nhu cầu cá nhân đang làm những công việc mà phù hợp với mình”.
Như thế rõ ràng nhu cầu này xuất hiện khi đã có sự thỏa mãn nhu cầu thấp hơn nó. Ta thấy rằng không phải trong cùng một thời kỳ mọi người đều xuất hiện những nhu cầu như nhau, mà ở từng thời điểm thì mọi người khác nhau có nhu cầu khác nhau. Nhưng về nguyên tắc các nhu cầu thấp hơn được thỏa mãn trước khi được khuyến khích được thỏa mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn. Maslow đã khẳng định: + Mỗi cá nhân NLĐ có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó được thỏa mãn bing những cách, những phương tiện khác nhau.
+ Về nguyên tắc con người cần được thỏa mãn nhu cầu ở bậc thấp hơn trước khi được khyến khích thỏa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn. + Người quản lý cần phải quan tâm đến các nhu cầu của NLĐ.