phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tăng trƣởng tín dụng ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng tăng trƣởng tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2017 - 2019 Chƣơng 3: Giải pháp tăng trƣởng tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2020 - 2025 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thƣơng mại Để hiểu và làm rõ đƣợc ý nghĩa của tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại (NHTM), chúng ta cần tìm hiểu khái niệm của từng từ trong cụm tín dụng NHTM.
Theo dòng phát triển của lịch sử kinh tế, có nhiều định nghĩa về tín dụng. Xuất phát điểm đầu tiền của tín dụng là từ chữ “credo” trong tiếng La tinh, có nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Xét riêng trong quan hệ tài chính, Lê Văn Tề (2010) đã nhận định tín dụng là một hình thức giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Cụ thể hơn, Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) cũng có khái niệm định nghĩa về tín dụng là quan hệ vay mƣợn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay theo nguyên tắc hoàn trả và đây chính là cốt lõi của sự tin tƣởng và tín nhiệm cho hoạt động vay mƣợn.
Bên cạnh đó, có thể hiểu theo cách khác là sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị đƣợc biểu hiện bằng hình thái tiền tệ hoặc tài sản hiện vật từ ngƣời cho vay sang ngƣời vay, thu đƣợc một lƣợng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu. NHTM là tổ chức tài chính quan trọng ở hầu hết các nền kinh tế, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa. Song song với sự phát triển của nền kinh tế, NHTM ngày càng trở nên hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu góp phần điều tiết dòng tiền trong nền kinh tế. Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) đƣa ra định nghĩa về NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn với hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng vốn huy động đƣợc để cho vay, chiết khấu cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tƣợng là khách hàng trong nền kinh tế.
Về mặt pháp lý, theo Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành năm 2010, NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng 9 và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhƣ vậy, từ việc tìm hiểu ý nghĩa “tín dụng” và “NHTM”, có thể tổng hợp và hiểu rõ đƣợc tín dụng trong NHTM là hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân với sự tin tƣởng tín nhiệm từ ngƣời gửi tiền và ngƣời vay tiền cũng nhƣ của ngân hàng đối với ngƣời đi vay, là một hình thái hoạt động chuyên nghiệp, đáng tin cậy, đa dạng và phong phú. Đặc điểm tín dụng ngân hàng thƣơng mại Có thể nhận ra đƣợc đặc điểm tín dụng của NHTM từ khái niệm và phƣơng thức hoạt động: - Chủ thể trong hoạt động tín dụng NHTM đƣợc xác định một cách rõ ràng, theo Lý Hoàng Ánh (2014) có thể thấy rằng ngân hàng vừa là ngƣời huy động vốn vừa là ngƣời cho vay, bên cạnh đó, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cá nhân vừa là ngƣời gửi vốn vào ngân hàng vừa là ngƣời đi vay. - Đối tƣợng của tín dụng ngân hàng là vốn bằng tiền tệ hay hiện vật và chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn bằng hình thức cho vay.
- Sự chuyển nhƣợng theo nguyên tắc hoàn trả theo thời gian nhƣ trong hợp đồng thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng. - Giá trị hoàn trả bao gồm cả vốn gốc, lãi và phí tín dụng. Vai trò tín dụng ngân hàng thƣơng mại Trong sự phát triển của kinh tế - xã hội, tín dụng NHTM thể hiện đƣợc vai trò quan trọng ở nhiều mặt. Trƣớc tiên, Nguyễn Đăng Dờn (2014) trực quan chỉ ra rằng, tín dụng NHTM đã và đang góp phần thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa đƣợc lƣu thông và phát triển.
Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, tín dụng NHTM trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất giúp tập trung nguồn vốn một cách hiệu quả cho nền kinh tế từ tiền gửi của các tổ chức và cá nhân, từ đó cung ứng vốn đầu tƣ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế để gia tăng năng lực sản xuất, phát triển sản xuất và kinh doanh. Có thể sử dụng hình ảnh chiếc cầu để diễn tả vai trò của tín dụng NHTM 10 cho dễ hiểu và hình dung, đây là chiếc cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ, làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn, góp phần thúc đẩy, tăng cƣờng sản xuất kinh doanh. Tín dụng NHTM có thể đáp ứng cho nhiều đối tƣợng trong xã hội, tiến đến hỗ trợ vốn cho các ngành nghề khác không riêng gì lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhƣ dịch vụ, đời sống (cho vay tiêu dùng) và quy mô của hoạt động này không bị giới hạn, có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế - xã hội số lƣợng vốn rất lớn, nhờ đó doanh nghiệp có thể mở rộng vốn đầu tƣ, ngƣời dân nâng cao chất lƣợng đời sống. Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, theo Lý Hoàng Ánh (2014), tín dụng NHTM còn là công cụ giúp ổn định tiền tệ và thị trƣờng giá cả.
Song song với quá trình thực hiện chức năng thứ nhất vừa nêu trên, tín dụng NHTM đã góp phần điều tiết và ổn định dòng tiền lƣu hành trên thị trƣờng, đặc biệt là lƣợng tiền mặt trong dân cƣ. Từ việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đƣợc tạo ra ngày càng nhiều, đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, từ đây ổn định đƣợc thị trƣờng giá cả trong nƣớc. Ngoài các vị trí quan trọng chủ yếu đối với nền kinh tế, ở một khía cạnh rộng và bao quát hơn, Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) có cùng một quan điểm khi nhìn ra tín dụng NHTM còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Có thể nhận định đƣợc vai trò này của NHTM từ việc hỗ trợ dòng vốn cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô, phát triển sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm cho ngƣời lao động, thu hút nhiều lực lƣợng lao động, từ đó gia tăng sản xuất, cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu đời sống ngƣời dân.
Có thể thấy một xã hội đƣợc phát triển lành mạnh với công ăn việc làm đầy đủ, đời sống đƣợc ổn định, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu sẽ là tiêu chí cho một xã hội ổn định và trật tự. Rộng hơn, nữa hai tác giả trên còn chỉ ra rằng trong quá trình toàn cầu hóa, hoạt động tín dụng NHTM còn tham gia vào phát triển các mối quan hệ quốc tế, kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lƣu quốc tế giữa các nƣớc với nhau thông qua việc giúp đỡ và giải quyết nhu cầu vốn của nhau trong quá trình phát triển và đi lên của mỗi nƣớc, làm cho mối quan hệ của các nƣớc xích lại gần nhau hơn. Tổng quan về tăng trƣởng tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tăng trƣởng tín dụng ngân hàng thƣơng mại Khi nói đến tăng trƣởng tín dụng (TTTD) của NHTM, điều này muốn nhấn mạnh đến việc gia tăng dƣ nợ cho vay ở thời điểm hiện tại so với thời điểm trƣớc đó.
Gia tăng dƣ nợ tín dụng bằng cách cung cấp nguồn vốn cho ngƣời dân và doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu đời sống gia tăng và phát triển sản xuất kinh doanh. Nhƣng TTTD phải luôn đi cùng với chất lƣợng tín dụng (CLTD), gia tăng dƣ nợ tín dụng nhƣng vẫn đảm bảo CLTD, tiêu chí an toàn về vốn, rủi ro hoạt động và điều quan trọng là phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN). Tín dụng NHTM là khoản tiền mà các ngân hàng thƣơng mại cho cá nhân và doanh nghiệp vay. TTTD tăng bao nhiêu % có nghĩa rằng tổng tín dụng của ngân hàng năm nay sẽ cao hơn so với năm trƣớc là bấy nhiêu %.
Ở Việt Nam, đã từng có thời kỳ “TTTD nóng của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2007-2010” và nó có tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của các NHTM với mức độ ảnh hƣởng lớn hơn nhiều so với các giai đoạn khác, trên các khía cạnh chủ yếu nhƣ chất lƣợng tài sản, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản, an toàn vốn. Vì vậy TTTD luôn cần phải đặt tiêu chí đảm bảo chất lƣợng, an toàn, hiệu quả, nâng cao khả năng phòng chống rủi ro, không vì chạy đua theo đà tăng trƣởng nhanh tăng trƣởng nóng mà đẫn đến suy thoái về tài chính và các hệ lụy liên quan kéo theo. Các chỉ tiêu đánh giá tăng trƣởng tín dụng ngân hàng thƣơng mại Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, mỗi ngân hàng đều đặt ra mục tiêu hàng đầu là làm thế nào để tạo ra lợi nhuận, đảm bảo quỹ thu nhập và lƣơng thƣởng cho ngƣời lao động. Trong đó, TTTD luôn đƣợc đặc biệt quan tâm, vì đây chính là nghiệp vụ quan trọng mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Hàng năm, các ngân hàng đều đƣa ra mục tiêu TTTD nhằm đảm bảo mục tiêu kinh doanh của đơn vị, vừa đảm bảo đúng quy định của NHNN. Các chỉ tiêu đánh giá TTTD về lƣợng của NHTM: 1.1 Quy mô tăng trƣởng tín dụng Quy mô TTTD đƣợc xác định thông qua giá trị của phần chênh lệch tuyệt đối 12 giữa số dƣ tín dụng kỳ này so với kỳ trƣớc. Chỉ tiêu này đánh giá sự thay đổi quy mô tín dụng đối với khách hàng, chỉ tiêu này tăng thì quy mô tín dụng của ngân hàng đƣợc mở rộng, còn ngƣợc lại thì thu hẹp.