CHƯƠNG I: CO SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TAC QUAN LÝ THUE THU NHAP DOANH NGHIỆP DOI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1. Tổng quan về thuế Thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm về thuế Thu nhập doanh nghiệp Theo Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn (2016), “Thuế TNDN là thuế tính trên thu nhập trước thuế (thu nhập chịu thuế) của doanh nghiệp trong kỳ tính thuê”. Theo Luật số: 14/2008/QH12, “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong kỳ tính thuế”.
Thuế TNDN xuất hiện từ rất sớm trong suốt quá trình phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN là một công cụ đặc biệt quan trọng được Nhà nước sử dụng trong việc dam bảo 6n định nguồn thu NSNN, qua đó thực hiện việc phân phối thu nhập. Mức thuế suất cao hay thấp áp dụng cho các đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, điều này phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu điều tiết thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thuế TNDN ra đời bắt nguồn từ hai lý do chủ yếu sau: - Sự ra đời của thuế TNDN bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
- Sự ra đời của thuê TNDN xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước. Căn cứ các quy định của pháp luật về thuế TNDN của Việt Nam thì ta có thé hiểu: Thuế TNDN là khoản nghĩa vụ tài chính bắt buộc các cơ sở sản xuất kinh doanh có thu nhập chịu thuế phải nộp trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật trong từng thời kỳ. Trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp, đây là khái niệm được sử dụng phô biên và xuyên suôt. Đặc điểm của thuế Thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN gồm có bốn đặc điểm chính, cụ thé như sau: Một là, Thuế TNDN là loại thuế trực thu do đối tượng chịu thuế chính là lợi nhuận thu được của đối tượng nộp thuế.
Theo Luật thuế TNDN (2008): “Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp)” (Khoản 1, Điều 2), bao gồm: + Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; + Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; + Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; + Don vi sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; + Tổ chức khác có hoạt động SXKD có thu nhập chịu thuế. Hai là, Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chiu thuế của doanh nghiệp nên kết quả hoạt động KD của doanh nghiệp ảnh hưởng rat lớn đến mức đóng góp vào NSNN của thuế TNDN. Chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thu nhập chiu thuế được tính như sau: Thu nhập chịu thuế = (Doanh thụ — Chỉ phí được trừ ) + Thu nhập khác Ba là, Thuế TNDN được xây dựng tương đối ôn định nhăm mang lại môi trường thuận lợi cho hoạt động SXKD.
Bản thân thuế TNDN sẽ điều tiết vào thu nhập của DN mà nguồn thu nhập này có bản chất là nguồn vốn tái đầu tư mở rộng sản xuất, nên thuế TNDN thường phải én định qua thời gian, đặc biệt là về thuế suất. Tính chất ôn định tương đối này giúp các DN chủ động trong việc lên kế hoạch đầu tư, đề ra phương án SXKD một cách bền vững. Từ đó, góp phần gia tăng quy mô và hiệu quả SX, đem lại nguồn thu vững chắc hơn cho ngân sách. Thuế suất của thuế TNDN: Ké từ ngày 1/1/2016, mức thuế suất thống nhất là 20%.
Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm đò, khai thác dau, khí và tai nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam, áp dụng mức thuế suất từ 32% đến 50% tùy theo từng dự án, từng cơ sở kinh doanh. Vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp Theo Đặng Văn Dân (2018), “Thuế thu nhập doanh nghiệp có những vai tro sau: Một là, Thuế TNDN là một khoản thu có vi trí rất quan ngân sách Nhà nước. Theo quy luật chung, khi trình độ kinh tế càng phát triển thì thuế TNDN sẽ càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong tổng nguồn thu ngân sách quốc gia. Số thu sẽ tăng lên trên đối tượng nộp thuế ngày càng được mở rộng hơn về cả quy mô lẫn số lượng.
Hai là, Thuế TNDN là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước ban hành luật thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo sự bình đăng trong cạnh tranh, góp phần thúc đây nền kinh tế phát triển. Nhà nước thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế (được miễn thuế) hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển của một lĩnh vực hay một vùng, một khu vực nào đó. Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, Nhà nước cũng đưa ra thuế suất ưu đãi đề áp dụng đối với các ngành nghề, mặt hang trong nền kinh tế để khuyên khích các ngành nghề, mặt hàng này theo định hướng của Nhà nước.
Ba là, Thuế TNDN còn là cơ sở dé Nhà nước phân phối lai thu nhập, thực hiện chính sách công bằng xã hội. Điều này đặc biệt cần thiết trong nền kinh tế thị trường luôn đề cao tính cạnh tranh, trong đó yếu tô phân hoá giàu nghèo là điều không tránh khỏi. Trong chính bối cảnh đó, thuế TNDN ra đời giúp rút ngăn khoảng cách giàu nghèo các thành viên trong xã hội. Thuế TNDN ngày nay được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, không những đảm bảo nguyên tắc bình đăng về chiều ngang, mà còn cả công bằng về chiều dọc.
Về chiều ngang, bat ké một doanh nghiệp kinh doanh bat cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế. Về chiều dọc, cùng một nganh nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì vẫn phải nộp thuê. Doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI (Foreign Direct Investment) hiểu theo định nghĩa Tiếng Anh là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn hóa của bên nước ngoài góp là bao nhiêu.
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, việc định danh loại hình doanh nghiệp này chưa that sự chi tiết, cụ thể. Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 (đã hết hiệu lực) phân loại: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập dé thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà dau tư nước ngoài mua cô phân, sáp nhập, mua lại”. Theo đó, khi Luật đầu tư 2014 được ban hành thì không đề cập trực tiếp đến loại hình doanh nghiệp này, chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều 3 như sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nha đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cô đông”. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu ở đây rang doanh nghiệp FDI là một hình thức được hiểu trong tổ chức kinh tế có von dau tư nước ngoài.
Như vậy, có thé hiểu một cách cơ bản rằng: Doanh nghiệp FDI, hay còn gọi là doanh nghiệp có vốn dau tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình tổ chức kinh doanh, trong đó có nhà dau tw nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông, hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và các thông lệ quốc té. Đặc điểm doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI có một số đặc điểm như sau: - Doanh nghiệp FDI thường là Chi nhánh của Công ty đa quốc gia (chiếm 90% nguồn vốn DTNN đang vận động trên thé giới). Ngoài ra, người đứng đầu doanh nghiệp FDI có thể là các cá nhân nước ngoài sang đầu tư. - Nguồn vốn của các doanh nghiệp FDI bao gồm vốn góp dé hình thành vốn pháp định, vốn vay hoặc vốn bố sung từ lợi nhuận giữ lại để mở rộng và triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn đầu tư tại các doanh nghiệp FDI được sử dụng theo mục đích của chủ DTNN trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại. Nước tiếp nhận đầu tư chỉ có thé định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ như : thuế, giá thuê đất, các quy định để khuyến khích hay hạn chế dau tư nước ngoài vào một ngành, một lĩnh vực nào đó. - Đi kèm với dự án của các doanh nghiệp FDI là ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất nhập khẩu); Chuyên giao công nghệ; Di cư lao động quốc tế, trong đó di cư lao động quốc tế góp phần vào việc chuyên giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp FDI. - Thông thường chủ các doanh nghiệp FDI trực tiếp điều hành hoặc tham gia điều hành hoạt động của doanh nghiệp tuỳ theo tỷ lệ vốn mà tô chức hay cá nhân đó đóng góp.
Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thì quyền quản lý và ra quyết định đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp càng lớn. Người đứng đầu doanh nghiệp FDI tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Quyền lợi và trách nhiệm của nhà DTNN gắn chặt với doanh nghiệp mà họ đầu tư. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định lợi nhuận của nhà đầu tư.
Sau khi trừ đi thuế TNDN và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, nhà DTNN nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. - Do chủ đầu tư của doanh nghiệp FDI phần lớn là các công ty đa quốc gia hoặc các công ty mẹ ở nước ngoài nên có thể xảy ra hiện tượng trốn thuế qua các giao dịch liên kết. Hệ thống số sách, báo cáo nội bộ công ty thường bằng tiếng nước ngoài, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tương đối phức tạp. Bên cạnh đó, do lãnh đạo công ty thường là người nước ngoài, nên việc năm bắt, vận dụng cũng như tuân thủ những quy định luật pháp của nước sở tại còn nhiều hạn chế.