Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1. Giới thiệu chung về nhà thầu nước ngoài, thuế nhà thầu nước ngoài 1. Khái niệm chung về nhà thầu nước ngoài, thuế nhà thầu nước ngoài 1. Nhà thầu nước ngoài Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính Phủ: "Nhà thầu nước ngoài" là tổ chức, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự; đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực hiện hợp đồng.
Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà nhà thầu có quốc tịch. Nhà thầu nước ngoài có thể là nhà thầu chính, tổng thầu, nhà thầu liên danh, nhà thầu phụ. Theo Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài Chính: “Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài)” Như vậy, nhà thầu nước ngoài ở đây là các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại một nước trên cơ sở hợp đồng hoặc thoả thuận bằng văn bảng giữa họ với tổ chức, cá nhân của nước đó mà không hình thành nên một pháp nhân tại nước có thu nhập phát sinh. Nhà thầu nước ngoài chỉ hoạt động theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại, sau khi kết thúc hợp đồng thì hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt.
Thuế nhà thầu nước ngoài Thuế NTNN theo tên gọi ở các nước trên thế giới là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contracter Witholding Tax (FCWT). Theo luật quản lý c 8 thuế của Australia năm 2012, (Taxation Administration Amendment Regulations 2012) Thuế NTNN được định nghĩa là loại thuế đánh trên thu nhập (lãi vay, cổ tức, tiền bản quyền và các khoản thanh toán thuế) được quy định tại nguồn của người cư trú ngoài nước đó. Theo IRS của Hoa Kỳ, thuế nhà thầu là số tiền thuế mà một quốc gia tác động vào khoản thu nhập chi trả cho phía bên ngoài và đó là khoản mà một doanh nghiệp sẽ giữ lại khi có phát sinh việc thanh toán tiền cho một bên khác, và số tiền giữ lại này sẽ được nộp cho cơ quan thuế thông qua hoạt động mà nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ thực hiện kinh doanh. Như vậy, với tên gọi của mình, có thể thấy thuế nhà thầu nước ngoài thuộc loại thuế thu theo đối tượng, mà ở đây là các nhà thầu nước ngoài.
Vai trò của nhà thầu nước ngoài, thuế nhà thầu nước ngoài 1. Vai trò của nhà thầu nước ngoài Khả năng của các doanh nghiệp còn hạn chế, do vậy khi các NTNN trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem theo những dây truyền công nghệ mới, điều này sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt đối với việc xây dựng nhà máy, các công trình trọng điểm. Đây là bước đầu cải thiện và đổi mới hoàn toàn công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Một vai trò không kém phần quan trọng của các NTNN sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam. Với những nước đang phát triển như nước ta các NTNN sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình. Góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động. Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Vai trò của thuế nhà thầu nước ngoài Đối với nước đang phát triển như Việt Nam thuế NTNN đóng vai trò quan trọng là tạo nguồn thu cho NSNN, kích thích tăng trưởng kinh tế. Đáp ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Mặt khác, nó giúp chúng ta hoà nhập vào các khu vực thế giới tạo tiền đề cho quá trình phát triển của nước ta. Thuế NTNN còn giữ vai trò là một công cụ hữu hiệu của nhà nước nhằm làm giảm bớt hoặc hạn chế việc trốn thuế hay tránh các khoản thuế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hội nhập, xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các nước thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI, các công ty nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không hình thành pháp nhân đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng về nhiều lĩnh vực, trong đó có thuế. Chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài cũng dựa trên một mặt bằng chung như đối với các doanh nghiệp trong nước, xây dựng một sân chơi chung cho các doanh nghiệp hoạt động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Đặc điểm của thuế nhà thầu nước ngoài * Các loại thuế quy định đối với NTNN - Đối với tổ chức nước ngoài: + Thuế giá trị gia tăng (GTGT) + Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) - Đối với cá nhân nước ngoài: + Thuế giá trị gia tăng + Thuế thu nhập cá nhân - Đối với các loại thuế, phí và lệ phí khác, Nhà thầu nước ngoài thực hiện theo các văn bản pháp luật về thuế, phí và lệ phí khác hiện hành. c 10 Lãnh thổ Việt Nam Cung cấp hàng hóa dịch vụ * Về lĩnh vực hoạt động: Thuế nhà thầu chỉ xuất hiện chủ yếu ở một số loại hình hoạt động kinh doanh sau: - Thương mại: phân phối, cung cấp hàng hoá, nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị; phân phối, cung cấp hàng hoá, nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị gắn với dịch vụ tại Việt Nam.
- Dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ quản lý nhà hàng, khách sạn, casino; dịch vụ tài chính phát sinh), cho thuê máy móc thiết bị, bảo hiểm, thuê giàn khoan. - Cho thuê tàu bay, động cơ tàu bay, phụ tùng tàu bay, tàu biển. - Xây dựng, lắp đặt có bao thầu hoặc không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị. - Hoạt động sản xuất, kinh doanh khác, vận chuyển (bao gồm vận chuyển đường biển, vận chuyển hàng không).
- Chuyển nhượng chứng khoán, chứng chỉ tiền gửi, tái bảo hiểm ra nước ngoài, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm. - Thu nhập bản quyền. * Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài: Hoạt động kinh doanh của thuế nhà thầu đánh vào dự án hay dịch vụ hợp đồng ký kết với doanh nghiệp hoặc cá nhân của nước sở tại thường hoạt động trong thời gian ngắn (dưới 1 năm hoặc vài tháng). Bên cạnh đó, cũng có những hợp đồng ký kết hoạt động kéo dài vài năm (hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí, hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng).
* Về tỷ lệ % để tính thuế GTGT và thuế TNDN trên doanh thu tính thuế: c 11 Thuế nhà thầu là vừa mang tính chất của loại thuế gián thu và vừa mang tính chất của loại thuế trực thu theo quy định pháp luật của từng quốc gia cụ thể. Để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thuế, thuế suất đối với các hoạt động kinh doanh của NTNN thường được gộp chung theo từng nhóm có hoạt động kinh doanh tương tự, việc xác định thuế thường dựa trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu theo từng nhóm hoạt động kinh doanh (hoạt động dịch vụ, hoạt động xây dựng, hoạt động thương mại) mà NTNN nhận được. * Tổ chức, phương pháp kê khai, nộp thuế nhà thầu: Có 2 trường hợp hiện diện chính của của Nhà thầu nước ngoài đó là: - Trường hợp 1: Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài đảm bảo các điều kiện: Có cơ sở thường trú tại Việt Nam, hoặc là đối tượng cư trú tại Việt Nam; Thời hạn kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ từ 183 ngày trở lên kể từ ngày hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ có hiệu lực; Áp dụng chế độ kế toán Việt Nam và thực hiện đăng ký thuế, được cơ quan thuế cấp mã số thuế. Đối với những NTNN này sẽ tự hạch toán kế toán, đăng ký thuế, tự kê khai, nộp thuế tại cơ quan thuế quản ý theo quy định của Luật quản lý thuế và được chọn lựa kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế (phương pháp kê khai) hoặc kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu (phương pháp hỗn hợp).
- Trường hợp 2: Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện nêu tại trường hợp 1 thì Bên Việt Nam nộp thay thuế Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài theo phương pháp nộp thuế GTGT, nộp thuế TNDN theo phương pháp tỷ lệ tính trên doanh thu (phương pháp trực tiếp). * Quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA): c 12 Trong quá trình quốc tế hoá, các quốc gia thường cam kết hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, văn hoá, giáo dục, thương mại, đầu tư…Từ đó, hình thành nên các hiệp định giữa các quốc gia là đều tất yếu. Đặc biệt, thuế NTNN có quan hệ chặt chẽ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, các quy định về thu nhập từ hoạt động kinh doanh, thu nhập từ vận tải quốc tế, thu nhập từ lãi tiền cho vay, thu nhập từ tiền bản quyền đều đề cập đến quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định tại Hiệp định và các quy định tại luật thuế trong nước thì sẽ áp dụng theo các quy định của Hiệp định.
Như vậy, thường là có sự ưu tiên áp dụng quy định tại Hiệp định hơn là áp dụng quy định nội luật đối với thuế NTNN. * Phương pháp nộp thuế GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ tính trên doanh thu (gọi tắt là phương pháp trực tiếp). Theo phương pháp này thì Bên Việt Nam sẽ thực hiện kê khai và nộp thay thuế cho NTNN, nhà thầu phụ nước ngoài. a, Thuế giá trị gia tăng Căn cứ tính thuế là doanh thu tính thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu.