CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ 1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh ❖ Khái niệm Theo Luật Doanh nghiệp (2020): “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm doanh nghiệp có vốn trong nước, là doanh nghiệp do một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân mà nhà nước sở hữu nhưng chiếm từ 50% trở xuống vốn điều lệ”. Có các loại hình DN ngoài quốc doanh sau đây: (1) Doanh nghiệp NQD; (2) Công ty hợp danh; (3) Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; (4) Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; (5) Công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ từ 50% trở xuống vốn điều lệ.
❖ Một số đặc điểm - Về sự sở hữu: các tổ chức cá nhân hoặc cá nhân là chủ thể sở hữu và điều hành các doanh nghiệp. - Về mục tiêu lợi nhuận: việc đảm bảo tăng trưởng tạo ra lợi ích cho chủ sở hữu hoặc các cổ đông của doanh nghiệp là mục tiêu chính của các doanh nghiệp ngoài tư nhân. - Về quyền điều hành: mọi quyền quyết định về mô hình, kế hoạch kinh doanh, dịch vụ, sản phẩm cung cấp đều phụ thuộc vào bản thể doanh nghiệp mà không bị chi phối hay phụ thuốc quá nhiều vào Chính phủ. - Về trách nhiệm và nghĩa vụ: mọi doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh đều phải tuân thủ pháp luật kinh doanh và hoàn thành mọi nghĩa vụ về thuế đối với NSNN.
- Về trách nhiệm xã hội: các đơn vị ngoài quốc doanh cần phải có trách nhiệm với xã hội thông qua ý thức với môi trường tại địa bàn kinh doanh của đơn vị đồng thời tham gia các hoạt động thiện nguyện. - Về quản lý rủi ro: khác với các đơn vị có vốn đầu tư Nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được ủng hộ tài chính từ Chính phủ và phải tự quản lý các rủi ro trong quá trình kinh doanh. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Thứ nhất, góp phần thu hút đầu tư vào SXKD. Sự phát triển của các DN NQD theo hướng đa dạng hoá các loại hình sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh đã hình 4 thành một kênh đầu tư tư nhân lớn vào hoạt động SXKD, thúc đẩy đầu tư trong nước, khắc phục xu hướng chỉ dựa vào đầu tư từ vốn ngân sách.
Tuy lượng vốn đầu tư chưa đáng kể nhưng do số lượng các doanh nghiệp NQD ngày một tăng cao dẫn tới tổng số vốn đầu tư vào SXKD đều tăng. Thứ hai, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. DN ngoài quốc doanh với mô hình hoạt động đa dạng đã góp phần tạo môi trường cạnh tranh kinh tế với các doanh nghiệp quốc doanh, tạo động lực đổi mới lên các doanh nghiệp vốn Nhà nước để đứng vững trong cơ chế cạnh tranh thị trường. Có thể thấy rằng nhờ sự phát triển của các doanh nghiệp NQD đã thúc đẩy hình thành chỗ đứng của các đơn vị kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều cấu phần, tác động lên các doanh nghiệp quốc doanh đổi mới, cải cách cơ chế điều hành theo hướng thị trường, mở rộng hợp tác với các tổ chức bên ngoài để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, thúc đẩy tăng thu NSNN. Các doanh nghiệp NQD phát triển tạo ra nhiều nguồn thu từ thuế và các chi phí khác đóng góp vào NSNN góp phần giúp Nhà nước điều tiết thu nhập và sự phát triển kinh tế. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 12. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.
Khái niệm Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, thuế thu nhập doanh nghiệp là một khoản thu bắt buộc của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước dựa trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã. Trong đó, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) quy định về phần thu nhập chịu thuế cụ thể là một khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và thu nhập khác thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản, kể cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, trong đó có các loại giấy tờ có giá; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; khoản thu từ nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam. Khái niệm Quản lý và Quản lý thuế Henri Fayol (1916) cho rằng quản lý bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các nguồn lực, có thể là con người, tài chính, vật chất hoặc thông tin, hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Ngoài ra, quá trình này bao gồm việc thiết lập các mục tiêu rõ ràng, lập chiến lược, tổ chức nhiệm vụ, phân công quyền hạn, giao tiếp và thúc đẩy lực lượng lao động, kiểm soát hoạt động và thực hiện các thay đổi khi cần thiết. Theo Luật Quản lý thuế (2019), Quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế từ ba góc độ: (i) Quá trình vận dụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; (ii) Quá trình xây dựng tổ chức bộ máy ngành thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý thuế; (iii) Vận dụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế phù hợp với quy luật khách quan bao gồm các hoạt động: tuyên truyền hỗ trợ NNT, quản lý kê khai và kế toán thuế, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, thanh tra, kiểm tra thuế. Suy ra, quản lý thuế TNDN là một lĩnh vực chuyên ngành Quản lý Nhà nước, là quá trình chỉ huy và kiểm soát có mục đích bằng cơ chế, các văn bản, chính sách thuế đối với doanh nghiệp vào công tác dự toán và thu thuế để đảm bảo nguồn thu vào NSNN đầy đủ, đúng hạn. Vai trò quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ❖ Vai trò trong quản lý người nộp thuế Số lượng gia tăng nhanh của các DN ngoài quốc doanh tác động đến việc quản lý cũng như kiểm soát việc kê khai, nộp thuế của NNT.
Do đó, việc quản lý thuế TNDN là cần thiết để quản lý thực trạng kinh doanh của các đơn vị, kịp thời tuyên truyền, hướng dẫn NNT thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ kê khai và nộp thuế đúng quy định, đồng thời đưa ra hướng xử lý đúng cách khi phát hiện các hành vi trốn thuế trái pháp luật. ❖ Vai trò trong quản lý doanh thu và chi phí Để tính thuế TNDN cần xác định được thu nhập chịu thuế. Do vậy, bản chất của việc quản lý thuế TNDN chính là xác định được doanh thu và chi phí của doanh nghiệp, cân nhắc tính hợp lý của chi phí, sự phù hợp với ngành nghề kinh doanh thực tế với chứng từ chứng minh đầy đủ, hợp lệ, loại bỏ rủi ro về hoá đơn, trốn thuế, kiểm soát việc 6 chấp hành quy định kế toán của các tổ chức, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị. ❖ Vai trò trong quản lý miễn giảm thuế Nhằm thúc đẩy, khuyến khích các ngành nghề SXKD có tỷ lệ phát triển thấp, các chính sách miễn giảm thuế, ưu đãi thuế được Nhà nước ban hành.
Do đó, hoạt động quản lý thuế TNDN yêu cầu sự hiểu biết sâu sắc về các chính sách miễn giảm, ưu đãi thuế để tránh gây nhầm lẫn, thất thoát NSNN ❖ Vai trò trọng quản lý thu nộp thuế Quản lý thu nộp thuế hay còn gọi là công tác thanh tra, kiểm tra số tiền thực tế các tổ chức đã đóng góp vào NSNN so với số tiền trên thông báo hoặc quyết định truy thu của Cơ quan thuế. Vì vậy quản lý thu nộp là quá trình đôn đốc, kiểm tra, rà soát và phát hiện các nghĩa vụ thuế còn nợ hay nộp thừa, đưa ra hướng xử lý đúng quy định đới với những trường hợp còn nợ hay nộp thừa, đảm bảo lợi ích cho NNT cũng như nguồn thu vào NSNN 1. Đặc điểm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do đặc điểm của các doanh nghiệp NQD thuộc các tổ chức cá nhân hoặc cá nhân là chủ thể sở hữu và điều hành các doanh nghiệp nên đặc điểm quản lý thuế đối vối các đơn vị này cũng có nhiều điểm chặt chẽ hơn và các phương pháp quản lý được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng luật thuế, cụ thể: Về thanh tra - kiểm tra, kiểm tra nghiêm ngặt với tần suất thường xuyên theo quy định đối với các doanh nghiệp NQD để đảm bảo tuân thủ luật thuế khác với các doanh nghiệp quốc doanh thường được hưởng sự khoan hồng hoặc ưu đãi do chính phủ sở hữu và ít bị kiểm tra hơn do đã có sẵn các cơ chế nội bộ của chính phủ. Về các ưu đãi về thuế, nhằm mục đích thúc đẩy đầu tư và đổi mới, hạn chế ưu đãi trong quá trình quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD nhưng thường trong khi các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước lại có nhiều khả năng nhận được lợi ích trực tiếp từ thuế hơn để hoàn thành các mục tiêu kinh tế của chính phủ.
Về tính minh bạch, duy trì tính minh bạch trong báo cáo tài chính nhằm ngăn chặn hành vi trốn thuế đối với các đơn vị ngoài quốc doanh cần. Trái lại, đối với các doanh nghiệp quốc doanh việc yêu cầu báo cáo có thể ít nghiêm ngặt hơn do tận dụng mối quan hệ chặt chẽ của chính phủ.