PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, chính sách đổi mới và phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã và đang tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận khoa học – công nghệ tiên tiến để từng bước phát triển và mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó cũng tạo ra những thách thức lớn, đó là môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt. Để tồn tại, phát triển bền vững thì mỗi doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến kết quả kinh doanh mà còn phải chú trọng tới việc thực hiện các chế độ, chính sách về an sinh xã hội nói chung và chính sách về Bảo hiểm xã hội (BHXH), chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) và chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) nói riêng.
Các chế độ chính sách về BHXH, BHYT, BHTN giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc,được xây dựng nhằm bảo vệ, trước hết cho một lực lượng lao động đông đảo trong xã hội và có tính chia sẻ cộng đồng, thể hiện đường lối, chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Số người lao động tham gia và thụ hưởng BHXH ngày càng có sự gia tăng, các chế độ BHXH, BHTN được giải quyết và chi trả đầy đủ, kịp thời đã góp phần đảm bảo ổn định đời sống của người lao động, không những tạo sự tin tưởng đối với cá nhân người tham gia mà còn tạo ra sự an tâm đối với các thành viên trong gia đình, giảm gánh nặng về tài chính khi người tham gia gặp tai nạn, rủi ro… Tuy nhiên, cũng còn không ít người lao động chưa được tham gia BHXH, BHYT, BHTN nhiều đơn vị sử dụng lao động cố tình trốn đóng, nợ đọng tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN đặc biệt là khối các đơn vị là Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh. Theo thống kê, nếu như tổng số nợ bảo hiểm ở nước ta tính tại thời điểm cuối năm 2016 là 9,920 tỷ đồng, tương đương với 4,88% số phải thu thì đến cuối năm 2017, giảm xuống còn 7,435 tỷ đồng. Đặc biệt, đến cuối năm 2019, với việc ngành BHXH thực hiện đồng bộ các biện pháp quyết liệt, số nợ BHXH đã giảm còn 5,715 tỷ đồng, tương đương 1,7% số phải thu- đạt mức thấp nhất từ trước đến nay- nhưng tình trạng này vẫn còn ảnh hưởng đến quyền lợi của hàng trăm ngàn 2 NLĐ.
Việc nợ đọng tiền BHXH, BHYT, BHTN của các đơn vị, doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến việc chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động khi nghỉ việc, khi hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN. Phục Hòa là huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Cao Bằng. Toàn huyện có 25 nghìn người, gồm các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Mông; trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếm 52,6%. Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa là cơ quan chuyên môn do BHXH tỉnh Cao Bằng trực tiếp quản lý về ngành dọc đóng trên địa bàn huyện Phục Hòa.
Trong những năm gần đây, việc thu nộp BHXH đã và đang phát triển, công tác thu BHXH tại huyện đã đạt được những thành tích đáng khích lệ: số đơn vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước, quyền lợi BHXH của người lao động được đảm bảo hơn. Tuy nhiên, trong quá trình thu bảo hiểm ở huyện Phục Hòa vẫn còn một số hạn chế cần quan tâm giải quyết đó là: Tình trạng nợ đọng BHXH đang diễn ra hết sức nhức nhối ở tất cả các nhóm đối tượng tham gia BHXH. Tình trạng trốn đóng BHXH ngày càng phổ biến, gia tăng trong toàn huyện. Những vấn đề trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động của BHXH ở huyện.
Từ các lý do nêu trên, với những kiến thức đã được học trong thời gian theo học lớp Cao học K27 tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân và những kiến thức, kinh nghiệm công tác của bản thân, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chọn đề tài “Tăng cường quản lý nợ Bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu của luận văn. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa lý luận và các yếu tố ảnh hưởng cùng kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nợ bảo hiểm. - Làm rõ những thành công, hạn chế trong quản lý nợ bảo hiểm tại BHXH huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. 3 - Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nợ bảo hiểm tại BHXH huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nợ bảo hiểm. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng và quản lý nợ bảo hiểm tại BHXH huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng theo cách tiếp cận từ cách nhận biết, phân loại nợ bảo hiểm; quản lý hồ sơ nợ bảo hiểm khi xảy ra tình trạng nợ bảo hiểm xã hội; tổ chức quản lý, đôn đốc thu hồi nợ bảo hiểm xã hội; đánh giá tình hình nợ và thu nợ bảo hiểm xã hội tại các Doanh nghiệp có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định; xử lý và ngăn ngừa nợ bảo hiểm. Phạm vi về không gian:Tại Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2015 - 2019, đề xuất giải pháp đến 2025. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: Luâ ̣n văn sử du ̣ng nguồ n dữ liê ̣u từ các tài liê ̣u và thông tin nô ̣i bô ̣ gồ m tài liê ̣u do Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa , tỉnh Cao Bằng cung cấp. Nguồ n dữ liê ̣u thu thâ ̣p từ bên ngoài sử du ̣ng trong luâ ̣n văn bao gồ m các nguồ n từ Internet , sách báo , tạp chí , các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan… , các báo cáo định kỳ của Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng: các báo cáo tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các đơn vị trong phạm vi tỉnh Cao Bằng, và các thông tin khác có liên quan đến luận văn. - Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được thống kê, tổng hợp và phân tích dựa trên sự tham chiếu giữa lý luận và thực tiễn vấn đề nghiên cứu tại cá nhân.
Đi từ 4 hướng phân tích tổng hợp, từ cơ sở lý thuyết rồi đề cập những vấn đề đang diễn ra để làm rõ thực trạng quản lý nợ bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Các dữ liệu được thu thập và tổng hợp thành các bảng biểu, phác thảo đồ thị, biểu đồ và lập bảng so sánh giữa các đối tượng theo thời gian. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau: Chương 1:Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nợ Bảo hiểm. Chương 2: Thực trạng quản lý nợ bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Chương 3: Một số giải pháptăng cường quản lý nợ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hộihuyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ BẢO HIỂM 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ Bảo hiểm 1. Khái niệm nợ bảo hiểm BHXH ra đời là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động.
trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện. Do đó, việc đảm bảo các nguồn thu BHXH được thu đầy đủ là vấn đề hết sức quan trọng. Tham gia BHXH là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Luật BHXH, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động và NSDLĐ ký kết hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Với mục tiêu đảm bảo quyền lợi cho người lao động tham gia BHXH, Luật bảo hiểm xã hội 2014, tại điều 18, người sử dụng lao động có các trách nhiệm “Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 Nghị định 115/2015/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định đối với người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại ở rất nhiều các quốc gia trên thế giới, nhiều các tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng lao động chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, còn nợ tiền đóng BHXH cho người lao động, thậm chí nhiều doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả, có lợi nhuận, trả lương thưởng cho người lao động bình thường nhưng vẫn tìm cách đối phó, trốn tránh để sử dụng vào mục đích khác. Điều này đã gây khó khăn cho việc giải quyết các chế độ BHXH và xác nhận đóng 6 BHXH trên sổ BHXH khi không còn làm việc, khi chuyển đến làm việc cho người sử dụng lao động khác.
Đây là chủ đề rất nhức nhối đối với các cơ quan quản lý BHXH. Tình trạng này ngày càng diễn ra phức tạp dưới nhiều hình thức tinh vi, đa dạng càng đòi hỏi một cơ chế quản lý phù hợp. Vậy, “Nợ Bảo hiểm xã hội” là gì?