Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một thách thức y tế và kinh tế - xã hội nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu lẫn tại Việt Nam. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong 20 năm tới, số ca mắc ung thư trên toàn cầu ước tính tăng khoảng 57%, từ 14 triệu người lên 22 triệu người, mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc sử dụng thực phẩm độc hại; thực phẩm không an toàn cũng là tác nhân trực tiếp dẫn tới khoảng 50% các trường hợp tử vong trên thế giới hiện nay. Tại Việt Nam, chỉ riêng trong năm 2015, toàn quốc đã ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong; trong đó, 70% các vụ việc xuất phát từ cơ sở cung cấp thức ăn sẵn không bảo đảm điều kiện vận chuyển và bảo quản.

Thành phố Bắc Ninh, với vị thế là trung tâm kinh tế, văn hóa và dịch vụ đang trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng của tỉnh Bắc Ninh, tập trung mật độ cao các khu công nghiệp, làng nghề truyền thống và các điểm dịch vụ ẩm thực. Thực tiễn giai đoạn 2014 - 2016 cho thấy công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại địa phương đối mặt với nhiều bất cập: tỷ lệ cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm sau thanh kiểm tra tăng từ 16,91% năm 2014 lên 19,35% năm 2016, đồng thời có tới trên 50% số vụ ngộ độc thực phẩm hàng năm không xác định được rõ nguyên nhân do năng lực kỹ thuật và trang thiết bị kiểm nghiệm còn thiếu thốn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Hữu Huy tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh từ năm 2014 đến 2016, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế quản lý, kéo giảm tỷ lệ cơ sở vi phạm xuống dưới 10% và nâng cao năng lực kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với nguyên tắc quản trị rủi ro chuỗi thực phẩm hiện đại:

  • Lý thuyết quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm: Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là việc cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp lý, các công cụ chính sách, quy chuẩn kỹ thuật và nguồn lực để điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, lưu thông và tiêu dùng thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân và bảo đảm trật tự kinh tế.
  • Tiếp cận quản lý chuỗi "Từ trang trại đến bàn ăn" (Farm to Fork): Dựa trên tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (CODEX) và mô hình quản lý của Liên minh Châu Âu (EU), an toàn thực phẩm phải được kiểm soát liên tục qua 5 nhóm điều kiện: cơ sở vật chất; trang thiết bị, dụng cụ; con người; quy trình chế biến, bảo quản; và nguồn nguyên liệu đầu vào.
  • Hệ thống khái niệm nền tảng: Luận văn làm rõ 3 khái niệm then chốt gồm: Thực phẩm (sản phẩm con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc qua chế biến theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12); Vệ sinh an toàn thực phẩm (sự đảm bảo chắc chắn thực phẩm không chứa tác nhân sinh học, hóa học, vật lý vượt ngưỡng cho phép, không gây tổn hại tức thời hay lâu dài cho sức khỏe); và Ô nhiễm thực phẩm / Ngộ độc thực phẩm (bao gồm ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính do tích lũy độc tố).
  • Hành lang pháp lý tham chiếu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ, Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/06/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, cùng các tiêu chuẩn quốc tế ISO 17025 về năng lực phòng thử nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo định kỳ, số liệu thống kê thanh tra, kiểm tra và cấp chứng nhận từ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Bắc Ninh, Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh, Phòng Y tế và Trung tâm Y tế thành phố Bắc Ninh trong giai đoạn 2014 - 2016.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp, cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành điều tra, khảo sát thực tế với tổng cỡ mẫu 220 đối tượng trên địa bàn thành phố Bắc Ninh. Cỡ mẫu được phân bổ có chủ đích theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) gồm: 30 cán bộ làm công tác quản lý nhà nước thuộc ngành y tế, công thương và nông nghiệp; 50 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm; 60 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố; cùng 80 người tiêu dùng tại các phường trung tâm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng được lựa chọn vì tính chất đa tầng của chuỗi cung ứng thực phẩm, giúp thu thập dữ liệu đại diện chính xác cho từng mắt xích từ quản lý, cung ứng đến tiêu thụ.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp định tính và định lượng, so sánh tỷ lệ phần trăm (%), phân tích chỉ số biến động qua các năm. Việc lựa chọn phương pháp này giúp định lượng chính xác mức độ tuân thủ quy định, đánh giá mức độ hài lòng của cán bộ và người dân đối với thể chế quản trị an toàn thực phẩm.
  • Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực tiễn được khảo sát, tổng hợp sâu trong giai đoạn 2014 - 2016 và hoàn thiện công trình khoa học vào năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2014 - 2016 qua 4 phát hiện quan trọng:

  • Tỷ lệ vi phạm an toàn thực phẩm có xu hướng tăng qua các đợt thanh kiểm tra: Hoạt động thanh tra liên ngành được tăng cường đã phát hiện số lượng cơ sở không đạt chuẩn gia tăng đáng kể. Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm đã tăng từ 16,91% năm 2014 lên 19,35% vào năm 2016. Các lỗi vi phạm chủ yếu tập trung vào điều kiện trang thiết bị dụng cụ, quy trình bảo quản và nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu.
  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ kiểm định còn thiếu thốn nghiêm trọng: Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có khoảng 40% cán bộ quản lý đánh giá hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng được yêu cầu công việc. Trong các đơn vị, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm là nơi có tỷ lệ đánh giá trang thiết bị đầy đủ ở mức thấp nhất; việc thiếu hụt máy móc xét nghiệm nhanh và trang thiết bị chuyên sâu là rào cản lớn nhất khi thực thi công vụ tại hiện trường.
  • Công tác truyền thông có độ phủ rộng nhưng chiều sâu chuyển biến nhận thức còn hạn chế: Trên 70% số lượng cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn đã tiếp cận được các hình thức tuyên truyền, tập huấn kiến thức. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế chưa tương xứng khi ý thức chấp hành pháp luật của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ vẫn thấp, và trên 50% số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra hằng năm trên địa bàn chưa thể xác định rõ nguyên nhân do rào cản năng lực điều tra, giám sát.
  • Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác quản lý còn thấp: Đầu tư ngân sách cho an toàn thực phẩm bình quân đầu người của cả nước giai đoạn trước đó chỉ đạt 780 đồng/người/năm (chỉ bằng 1/19 của Thái Lan và 1/36 của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ - FDA). Tại thành phố Bắc Ninh, sự phân bổ ngân sách cho tuyến cơ sở (xã, phường) còn phân tán, chưa đủ để duy trì các chương trình giám sát nguy cơ định kỳ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng vi phạm tăng từ 16,91% lên 19,35% phản ánh cả hai khía cạnh: năng lực phát hiện của đoàn kiểm tra chuyên ngành đã tiến bộ hơn, nhưng đồng thời cũng chứng minh các chế tài hiện hành chưa đủ sức răn đe trước mức lợi nhuận của việc gian lận thương mại thực phẩm.

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ sự chồng chéo chức năng giữa 3 cơ quan quản lý chính (Y tế, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Công Thương) theo quy định của Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; lực lượng cán bộ chuyên trách tuyến phường/xã mỏng và phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Khi so sánh với mô hình thành công tại thành phố Đà Nẵng năm 2015 (thanh kiểm tra 4.258 cơ sở, phát hiện 675 cơ sở vi phạm chiếm 15,9%, xử phạt hành chính 182 cơ sở với tổng số tiền 336,6 triệu đồng và không để xảy ra vụ ngộ độc lớn nào), hay mô hình chợ an toàn thực phẩm Hà Vị tại Bắc Giang với vốn đầu tư 2,5 tỷ đồng cho 200 hộ kinh doanh, có thể thấy thành phố Bắc Ninh cần một cơ chế liên ngành tập trung và đầu tư hạ tầng điểm bài bản hơn.

Dữ liệu nghiên cứu về sự thay đổi tỷ lệ vi phạm (16,91% lên 19,35%) và mức độ hài lòng về trang thiết bị (chỉ 40% đạt chuẩn) có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột xu hướng vi phạm theo từng năm kết hợp với bảng ma trận đánh giá năng lực cơ sở vật chất theo từng cấp quản lý, giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện điểm nghẽn hạ tầng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện thể chế, cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp quản lý: Chuẩn hóa quy chế phối hợp hành động giữa Phòng Y tế, Phòng Kinh tế, Đội Quản lý thị trường và Ủy ban nhân dân 19 phường/xã; xóa bỏ tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống địa bàn đối với các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố.
    • Mục tiêu cụ thể: Rút ngắn 30% thời gian xử lý thủ tục cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện, xử lý dứt điểm 100% các tin báo vi phạm an toàn thực phẩm.
    • Lộ trình thực hiện: Hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2019.
    • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh chủ trì phối hợp với Sở Y tế và Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh.
  • Tăng cường nguồn lực tài chính, đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm hiện đại: Phân bổ ngân sách mua sắm các bộ kít kiểm tra nhanh (test kit) hàn the, phẩm màu công nghiệp, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cho các đội kiểm tra tuyến thành phố và trạm y tế phường/xã; xây dựng phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO 17025 tại tuyến tỉnh/thành phố.
    • Mục tiêu cụ thể: Nâng tỷ lệ cán bộ đánh giá cơ sở vật chất đạt yêu cầu từ 40% lên trên 75%; giảm tỷ lệ các vụ ngộ độc không rõ nguyên nhân từ trên 50% xuống dưới 15%.
    • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2020.
    • Chủ thể thực hiện: Sở Y tế, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tài chính thành phố Bắc Ninh.
  • Đổi mới quy trình thanh tra, xử lý nghiêm vi phạm và công khai thông tin: Đẩy mạnh các đợt thanh tra đột xuất không báo trước tại các bếp ăn tập thể trong khu công nghiệp và chợ truyền thống; áp dụng khung xử phạt tối đa kết hợp đình chỉ hoạt động đối với cơ sở cố tình tái phạm; công khai danh tính cơ sở vi phạm trên cổng thông tin điện tử và hệ thống truyền thanh cơ sở.
    • Mục tiêu cụ thể: Kéo giảm tỷ lệ cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm từ 19,35% xuống dưới 10% vào năm 2020.
    • Lộ trình thực hiện: Thực hiện thường xuyên hằng năm, tập trung cao điểm vào Tháng hành động vì an toàn thực phẩm, dịp Tết Nguyên đán và Tết Trung thu.
    • Chủ thể thực hiện: Ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm thành phố Bắc Ninh.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa, xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và mô hình chợ văn minh: Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư chuỗi sản xuất - chế biến - cung ứng nông sản sạch; quy hoạch vùng rau an toàn tập trung và nhân rộng mô hình chợ thí điểm bảo đảm an toàn thực phẩm tương tự mô hình 2,5 tỷ đồng tại Bắc Giang.
    • Mục tiêu cụ thể: 100% các chợ truyền thống trên địa bàn thành phố có khu kinh doanh thực phẩm tươi sống đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh thú y và kiểm soát xuất xứ.
    • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2018 - 2022.
    • Chủ thể thực hiện: Phòng Kinh tế thành phố Bắc Ninh, Ban quản lý các chợ dân sinh và Ủy ban nhân dân các phường/xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên cơ quan chức năng: Cán bộ công tác tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Sở Y tế, Phòng Y tế, Phòng Kinh tế, Đội Quản lý thị trường và Ủy ban nhân dân các cấp có thể sử dụng luận văn như cẩm nang tham khảo thực tiễn để xây dựng quy chế phân công liên ngành, quy trình thanh kiểm tra và phân bổ ngân sách trang thiết bị phù hợp với đặc thù đô thị loại I, loại II.
  • Chủ cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm: Doanh nghiệp sản xuất nông sản, đơn vị vận hành bếp ăn tập thể trong các khu công nghiệp Bắc Ninh, hộ tiểu thương chợ dân sinh và dịch vụ ẩm thực đường phố nắm bắt rõ 5 nhóm điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, quy trình 4 bước thẩm định cấp chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, từ đó chủ động chuẩn hóa cơ sở và phòng ngừa rủi ro pháp lý.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên, sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Chính sách công và Y tế công cộng tại các trường đại học, viện nghiên cứu có nguồn tư liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra mẫu phân tầng (220 mẫu khảo sát) và chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2014 - 2016.
  • Tổ chức bảo vệ người tiêu dùng và cộng đồng cư dân: Người tiêu dùng tại các đô thị công nghiệp có thêm góc nhìn khoa học để nhận biết dấu hiệu thực phẩm không an toàn, hiểu rõ quyền lợi được cung cấp thực phẩm sạch và nâng cao ý thức giám sát đối với các cơ sở cung ứng dịch vụ ăn uống.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm tại thành phố Bắc Ninh lại tăng từ 16,91% lên 19,35% trong giai đoạn 2014 - 2016?

Mức tăng tỷ lệ vi phạm này phản ánh tính hai mặt: một mặt, lực lượng thanh tra liên ngành đã nâng cao chuyên môn và tần suất kiểm tra đột xuất nên phát hiện được nhiều sai phạm tiềm ẩn hơn; mặt khác, tốc độ gia tăng nhanh chóng của các dịch vụ ăn uống phục vụ công nhân khu công nghiệp khiến công tác kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu bị buông lỏng, trong khi ý thức chấp hành của tiểu thương còn chạy theo lợi nhuận ngắn hạn.

Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ kiểm tra an toàn thực phẩm tại địa phương gặp những khó khăn gì?

Theo khảo sát thực tế, chỉ có khoảng 40% cán bộ quản lý đánh giá cơ sở vật chất đáp ứng được yêu cầu công việc. Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và Trung tâm Y tế thành phố thiếu các thiết bị test nhanh lưu động đạt chuẩn và máy móc định lượng chuyên sâu, dẫn đến tình trạng trên 50% số vụ ngộ độc thực phẩm hàng năm không xác định được nguyên nhân độc tố chính xác.

Sự chồng chéo trong cơ chế quản lý an toàn thực phẩm tại Việt Nam được thể hiện như thế nào?

Theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 (Điều 62, 63, 64), trách nhiệm quản lý nhà nước được phân chia giữa 3 bộ: Bộ Y tế (chịu trách nhiệm chung, quản lý phụ gia, nước đóng chai, thực phẩm chức năng), Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (quản lý sản xuất ban đầu, nông - lâm - thủy sản), và Bộ Công Thương (quản lý lưu thông chợ, siêu thị, rượu bia, bánh kẹo). Tại cấp thành phố, sự phân định này dễ gây lúng túng và đùn đẩy trách nhiệm khi kiểm tra các cơ sở đa ngành nghề.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ Liên minh Châu Âu (EU) và Thái Lan có thể áp dụng cho thành phố Bắc Ninh?

Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra 2 bài học cốt lõi: thứ nhất, áp dụng triệt để nguyên tắc kiểm soát chuỗi "Từ trang trại đến bàn ăn" kết hợp phân tích mối nguy; thứ hai, luật hóa việc công khai minh bạch danh sách cơ sở vi phạm trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Điều này tạo áp lực kinh tế mạnh mẽ buộc các doanh nghiệp phải tự giác đầu tư nâng chuẩn vệ sinh và áp dụng quy trình kiểm soát chất lượng tiên tiến.

Giải pháp nào mang tính đột phá để kiểm soát ngộ độc tại các bếp ăn tập thể khu công nghiệp?

Giải pháp then chốt là bắt buộc các bếp ăn tập thể quy mô trên 100 suất ăn phải ký cam kết chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn có truy xuất nguồn gốc điện tử, thực hiện nghiêm ngặt quy trình lưu mẫu thức ăn 24 giờ theo quy định của Bộ Y tế, và trang bị kít xét nghiệm nhanh độc tố cho đội ngũ kiểm thực ba bước tại từng bếp ăn trước khi phục vụ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện lý luận và pháp lý: Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đô thị, phân tích chuẩn mực theo chuỗi giá trị và gắn kết với các quy định pháp luật thực thi như Luật An toàn thực phẩm 2010, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP và Chỉ thị số 13/CT-TTg.
  • Đánh giá thực chứng chính xác tại thành phố Bắc Ninh: Công trình phản ánh bức tranh thực trạng giai đoạn 2014 - 2016 với dữ liệu xác thực: tỷ lệ vi phạm tăng lên 19,35%, chỉ 40% cán bộ đánh giá cơ sở vật chất đạt yêu cầu, và trên 50% số vụ ngộ độc chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể.
  • Nhận diện đúng các rào cản cốt lõi: Luận văn chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế gồm phân công liên ngành chồng chéo, nguồn ngân sách đầu tư bình quân thấp (780 đồng/người/năm trên toàn quốc), và hạ tầng kiểm định kỹ thuật chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp hóa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động: Đưa ra các kiến nghị đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, nâng cấp phòng kiểm nghiệm ISO 17025, siết chặt thanh tra đột xuất đến xã hội hóa mô hình chợ thực phẩm sạch với mục tiêu giảm vi phạm xuống dưới 10% trong giai đoạn 2018 - 2022.
  • Giá trị ứng dụng thực tiễn cao: Đề tài là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các cơ quan chính quyền đô thị, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng thực phẩm bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý đô thị và doanh nghiệp quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Huy tại Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để nghiên cứu chi tiết hệ thống bảng biểu thống kê, bộ câu hỏi điều tra 220 mẫu và khung phân tích quản lý kinh tế chuyên sâu.