Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý giao đất và cho thuê đất. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ GIAO ĐẤT VÀ CHO THUÊ ĐẤT 1.
Cơ sở lý luận về quản lý giao đất và cho thuê đất 1. Đất đai và quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm đất Theo Đô-cu-trai-ép (1886), “Đất là một thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương”. Theo Các Mác, “Đất là một tư liệu sản xuất đặc biệt, vừa là đối tượng lao động, vừa là sản phẩm lao động sản xuất của con người”.
Từ những khái niệm trên có thể rút ra: Đất là một vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do tác động tổng hợp của các yếu tố: Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng. Ngoài ra, đất còn là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động sản xuất của con người được đặc thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào thay thế được. Giao đất, cho thuê đất - Giao đất: Giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho người có nhu cầu sử dụng đất.
Việc giao đất dựa vào các căn cứ được quy định tại theo Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013 như sau: kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất dưới hai hình thức là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Và một trong các đối tượng được giao đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - 6 5 xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao. Nếu như việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là để đảm bảo lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,.
nhằm bảo đảm cho hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước hoặc sử dụng đất vào lợi ích chung, lợi ích công cộng,. thì việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất là đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất (Luật Đất đai, 2013). Thời hạn giao đất: Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì thời hạn giao đất được chia theo loại đất sử dụng đất gồm đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng có thời hạn (tùy vào mục đích sử dụng đất). - Cho thuê đất: Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho thuê cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Việc cho thuê đất dựa vào các căn cứ được quy định tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 như sau: kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Nhà nước cho thuê đất theo hai hình thức: cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm hoặc cho thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Một trong đối tượng được cho thuê đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao (Luật Đất đai, 2013). Khác với Luật đất đai năm 2003 thì theo Luật Đất đai năm 2013 thì việc thuê đất của các tổ chức kinh tế được lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất, cụ thể tại Điều 56 quy định Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đất.
Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý hành chính Nhà nước về đất đai là một lĩnh vực quản lý của Nhà nước, do đó được hiểu là hoạt động của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất (SDĐ) nhằm đạt được mục đích SDĐ tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, bảo vệ nguồn tài nguyên đất, bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quản sinh thái trên phạm vi cả nước và trên từng địa phương. Quản lý Nhà nước về đất đai còn là sự tác động có tổ chức, là sự điều chỉnh bằng quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước đối với các hành vi và hoạt động SDĐ đai do các cơ quan có tư cách pháp nhân công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lý hành chính nhà nước tiến hành bằng những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước nhằm SDĐ đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững ở mỗi địa phương và trong cả nước (Luật Đất đai, 2013). Tầm quan trọng của công tác quản lý lý nhà nước về đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai. Tổng diện tích tự nhiên của một phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi.
Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai ngày càng gia tăng. Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng tăng lên. Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau. Vì vậy, để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững thì việc quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết.
Quản lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước. Công tác quản lý nhà nước về đất đai Nội dung quản lý nhà nước (QLNN) về đất đai được quy định cụ thể tại Luật Đất đai, 2013. Theo đó, QLNN về đất đai bao gồm 15 nội dung: 8 (1) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ đai. (2) Thống kê, kiểm kê đất đai.
(3) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. (4) Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch SDĐ; điều tra đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. (5) Quản lý quy hoạch và kế hoạch SDĐ. (6) Quản lý việc giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng, thu hồi, chuyển mục đích SDĐ.
(7) Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. (8) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. (9) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. (10) Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
(11) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. (12) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm về đất đai. (13) Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố các các vi phạm trong quản lý và SDĐ đai. (14) Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai (15) Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai 1.
Nội dung giao đất và cho thuê đất 1. Khái niệm, đặc điểm về giao đất và cho thuê đất a. Khái niệm Giao và cho thuê đất là các khái niệm xuất hiện cùng với sự ra đời của Luật Đất đai, tuy nhiên khái niệm giao đất có sớm hơn, nó xuất hiện đầu tiên 9 trong Luật Đất đai 1987, còn khái niệm cho thuê đất được đưa vào từ Luật Đất đai 1993 và hoàn thiện trong Luật Đất đai năm 2013. Theo luật này, giao đất và cho thuê đất là một trong những nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, được giải thích là một hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
Có thể nói khái niệm này rất chung chung và mơ hồ vì thiếu những ràng buộc mang tính pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Tuy nhiên, đây cũng là cơ sở để khắc phục những hạn chế trong các văn bản luật về đất đai sau này. Luật Đất đai 2013 xây dựng trên cơ sở Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2003 và đã khắc phục được nhiều hạn chế của các luật cũ, đã đưa ra những khái niệm cụ thể về công tác giao và cho thuê đất. - Giao đất: Theo khoản 7 Điều 3 của Luật Đất đai 2013: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Như vậy, giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Giao đất với ý nghĩa là một nội dung của quản lí nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư sử dụng đất. Nhằm thực hiện chế độ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu được ghi nhận từ Hiến pháp 2013, Luật Đất đai 2013.