phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc từ 3 chương nội dung chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tƣ và quản lý chí phí các dự án đầu tƣ xây dựng công trình Chƣơng 2 : Thực trạng công tác quản lý chi phí đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi của Ban quản lý dự án đầu tƣ và xây dựng công trình thủy lợi tỉnh Yên Bái Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý chi phí các dự án đầu tƣ xây dựng công trình thuỷ lợi tại Ban quản lý dự án đầu tƣ và xây dựng công trình thuỷ lợi tỉnh Yên Bái Học viên: Kim Quyết Thắng - Lớp: Cao học 19KT11 3 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Thủy lợi CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ CHÍ PHÍ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về đầu tƣ và dự án đầu tƣ Muốn hiểu được khái niệm đầu tư, ta cần phải hiểu được những khái niệm liên quan đến hoạt động đầu tư. Khái niệm về hoạt động đầu tư Đầu tư là khái niệm chỉ một lĩnh vực hoạt động kinh tế của con người, hoạt động đầu tư đầu tư là việc huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, đất đai, vốn,.
ở hiện tại, thực hiện một dự án đầu tư cụ thể, với mong muốn trong tương lai sẽ thu được lợi ích lớn hơn. Như vậy, trong hoạt động đầu tư, nhà đầu tư phải chấp nhận sự hy sinh những nhu cầu tiêu dùng ở hiện tại, để tập trung tiền bạc, vốn cho việc thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh để trong tương lai sẽ kiếm được nhiều lợi ích hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cao hơn. Có thể phân loại đầu tư theo các giác độ như sau: 1. Theo chủ thể đầu tư: Theo cách phân loại này, đầu tư được chia thành đầu tư Nhà nước và đầu tư của các thành phần kinh tế khác.
Đầu tư Nhà nước là đầu tư mà Nhà nước là người bỏ vốn nhằm thực hiện các mục tiêu đầu tư phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Đầu tư của các thành phần kinh tế khác là đầu tư mà chủ đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Theo mức độ tham gia quản lý dự án của chủ đầu tư: Theo mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào đối tượng mà họ bỏ vốn, theo cách phân loại này, theo cách phân loại này, đầu tư được chia thành 2 loại sau: Học viên: Kim Quyết Thắng - Lớp: Cao học 19KT11 4 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Thủy lợi - Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn cùng là một chủ thể. - Đầu tư gián tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải là một.
Loại đầu tư này gồm đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán, với phương thức này, người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý kinh doanh. Theo nội dung kinh tế của đầu tư: - Đầu tư vào nguồn nhân lực: Là việc đầu tư cho lực lượng lao động nhằm mục đích tăng về lượng và chất. Gồm các hình thức đào tạo dài hạn, ngắn hạn, cấp chứng chỉ,. - Đầu tư vào tài sản lưu động: nhằm bảo đảm sự hoạt động liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh trong từng chu kỳ sản xuất; - Đầu tư xây dựng cơ bản: là việc đầu tư nhằm tạo mới hoặc nâng cao mức độ hiện đại tài sản cố định thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng, các công trình hạ tầng, đầu tư cho công nghệ, và máy móc thiết bị,… 4.
Theo thời gian tiến hành đầu tư: Theo thời gian đầu tư, có thể phân ra: Đầu tư ngắn hạn (dưới 3 năm); đầu tư trung hạn (từ 3 đến 5 năm); đầu tư dài hạn (thời gian lớn hơn 5 năm). Theo tính chất đầu tư: Theo tính chất đầu tư, thì đầu tư được chia thành: - Đầu tư mới: Đây hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một công trình mới hoàn toàn. - Đầu tư mở rộng: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ đang hoạt động để nâng cao công suất của công trình cũ, đáp ứng yêu cầu tăng sản cao số lượng sản phẩm, dịch vụ. Học viên: Kim Quyết Thắng - Lớp: Cao học 19KT11 5 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Thủy lợi - Đầu tư sửa chữa, cải tạo: là việc đầu tư nhằm khôi phục năng lực của công trình đang hoạt động trở về trạng thái tương tự như thiết kế ban đầu.
- Đầu tư cho vay (cho vay tín dụng): đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay tài chính kiếm lời qua lãi suất tiền cho vay, hình thức này phổ biến nhất là hoạt động của các ngân hàng thương mại. Theo lĩnh vực đầu tư: Theo lĩnh vực đầu tư: đầu tư cho nghiên cứu khoa học; đầu tư cho sản xuất; đầu tư cho quản lý; đầu tư cho kinh doanh; đầu tư cho giáo dục; đầu tư cho y tế… 1. Khái niệm về dự án và dự án đầu tư 1. Dự án: Theo định nghĩa của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO 9000:2000 thì dự án được định nghĩa như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
Như vậy, có thể hiểu dự án là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan đến nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục đích đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về ngân sách, nguồn lực và thời gian. Dự án đầu tư: Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư, luận văn xin đưa ra những khái niệm thường xuyên được sử dụng như sau: - Dự án đầu tư là việc sử dụng hiệu quả đầu vào để thu được đầu tư vì mục đích cụ thể; - Dự án đầu tư là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng các nguồn lực tài nguyên hữu hạn để đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho nhà đầu tư; Học viên: Kim Quyết Thắng - Lớp: Cao học 19KT11 6 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Thủy lợi - Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với quy định thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định; - Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định; - Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu xác định trong tương lai. Dự án đầu tư là một công cụ nhằm quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động và các nguồn lực để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội, dịch vụ trong một thời gian nhất định; Về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch định sẵn với lịch thời gian và địa điểm xác lập để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Thông thường một dự án đầu tư bao gồm những yếu tố cơ bản sau đây: - Thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt động của dự án; - Các nguồn vốn đầu tư để tạo nên vốn đầu tư của dự án; - Các mục tiêu của dự án, đó là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhà đầu tư và cho xã hội; - Các hoạt động gồm các biện pháp về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật,… để thực hiện mục tiêu của dự án; Học viên: Kim Quyết Thắng - Lớp: Cao học 19KT11 7 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Trường Đại học Thủy lợi - Các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra của dự án; - Các nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án và chi phí về các nguồn lực đó. Qua những khái niệm nêu trên có thể thấy rằng, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một một ý tưởng hay phác thảo, mà nó có tính cụ thể và mục tiêu xác định. Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng lặp lại, mà nó sẽ phải tạo nên một thực tế mới mà trước đó chưa từng tồn tại. Dự án đầu tư xây dựng công trình Thực tế chúng ta thường hay gặp thuật ngữ Dự án đầu tư xây dựng công trình.
Dự án đầu tư xây dựng công trình được hiểu là các dự án đầu tư có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản, như xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật,. có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình (XDCT) là một quá trình thực hiện các nhiệm vụ từ ý tưởng đầu tư xây dựng công trình thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả, thời gian và chi phí đã xác định trong hồ sơ dự án. Nếu xét về mặt hình thức dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật và tổ chức thi công công trình xây dựng và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của dự án,.