16990019171391000000 HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN Chủ tịch Hội đồng Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương LÊ MẠNH HÙNG Phó Chủ tịch Hội đồng Q. Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật PHẠM CHÍ THÀNH Thành viên PHẠM THỊ THINH NGUYỄN ĐỨC TÀI TRẦN THANH LÂM NGUYỄN HOÀI ANH LỜI NHÀ XUẤT BẢN Việt Nam có vùng biển rộng, bờ biển dài, nhiều đảo và giàu tài nguyên thiên nhiên. Biển Việt Nam rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền, tương đương 29% diện tích Biển Đông, bao gồm các vùng biển nằm trong phạm vi 200 hải lý, thềm lục địa và hai quần đảo ngoài khơi Hoàng Sa và Trường Sa. Biển Việt Nam tương đối giàu tài nguyên, các giá trị văn hóa - lịch sử; là nơi tập trung nhiều ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia; và có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng.
Đối với nước ta, biển, đảo không chỉ là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là môi trường sinh tồn phát triển đời đời bền vững của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh những đóng góp to lớn cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế chung của cả nước thì mối quan hệ giữa phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường chưa được gắn kết chặt chẽ, còn xung đột; chưa bảo đảm hài hòa giữa khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển với công tác bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, ven biển; ô nhiễm môi trường biển có lúc, có nơi vẫn còn diễn ra nghiêm trọng,. Vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến 5 phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Nhằm góp phần cung cấp cho bạn đọc những thông tin cơ bản về tài nguyên biển, đảo Việt Nam, đánh giá tiềm năng phát triển trong thời gian tới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cùng PGS.
Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch thường trực Hội nghề cá Việt Nam (VINAFIS), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách Biển, đảo Việt Nam - Những thông tin cơ bản, tập 2 - Tài nguyên biển, đảo Việt Nam. Cuốn sách phân tích làm rõ các vấn đề về: đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản, các hệ sinh thái tiêu biểu ở biển và ven biển nước ta, tài nguyên năng lượng và khoáng sản rắn ở vùng biển nước ta, các dạng tài nguyên biển khác. Mặc dù đã cố gắng trong quá trình biên tập, xuất bản, song đây là vấn đề rất rộng lớn, phức tạp, còn đang được tiếp tục nghiên cứu nên nội dung cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 11 năm 2020 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 I ĐÔI ĐIỀU KHỞI ĐẦU CẦN BIẾT Câu hỏi 1: Đa dạng sinh học biển là gì? Trả lời: Đa dạng sinh học biển được hiểu là tổng các dạng sống trong đại dương thế giới, được nhìn nhận ở ba mức: đa dạng loài, hệ sinh thái và nguồn gen. Đa dạng loài cũng biểu hiện ở ba khía cạnh: mức độ giàu có của loài (tổng số lượng loài), tính ngang bằng (sự phong phú tương đối của loài) và tính ưu thế (loài ưu thế nhất)1. Trong không gian bao la của biển và đại dương, nhiều nhóm sinh vật khác nhau sinh sống với những tập tính sống và khả năng thích nghi sinh thái rất khác nhau.
Nhiều loài sinh vật đáy sinh sản bằng cách đẻ trứng, nhưng khi tạo thành ấu trùng thì chuyển sang dạng trôi nổi một thời gian, khi đủ lớn lại sống đáy. Dạng ấu trùng hay dạng trung gian của chúng thường rất giàu có ở vùng nước ven bờ, trong các vùng cửa sông và vùng triều. Các ấu trùng cùng với sinh vật phù du bị phát tán khắp nơi nhờ dòng chảy biển và đại dương. Thường các sinh vật đáy rất cần nguồn 1.
Nguyễn Chu Hồi: Giáo trình Cơ sở Tài nguyên và Môi trường biển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 7 thức ăn trong vùng nước ven bờ, trong những đới giàu ánh sáng Mặt trời. Trường hợp ngoại lệ, một số ít quần xã sinh vật đáy sống ở nơi có mạch nước nóng trong phạm vi sống núi giữa đại dương.
Đặc biệt người ta cũng phát hiện thấy sự sống của sinh vật ở độ sâu chừng 8 km trong khe hẻm đại dương. Ở nơi sâu thẳm và tối tăm đó đã bắt gặp các sinh vật phát quang. Về tổng thể, số loài sinh vật phát hiện được trong đại dương ít hơn trên lục địa, nhưng đa dạng loài động vật cao hơn, còn thực vật thì thấp hơn rất nhiều. Đến năm 1990, đã phát hiện được trên 200.000 loài sinh vật biển, trong đó gần 98% là động vật đáy, chỉ còn khoảng 2% là các nhóm trôi nổi và bơi lội.
Ngoài ra, trong số trên có 180.000 loài động vật, hơn 16.000 loài cá và khoảng 25.000 loài thực vật. Theo Viện Tài nguyên thế giới (2000), dự tính trên hành tinh chúng ta có tổng số khoảng 14 triệu loài sinh vật, nhưng đến nay chỉ có 1,75 triệu loài đã được mô tả/đặt tên và cũng chỉ phát hiện được 250.000 loài trong môi trường biển1. Dĩ nhiên là con số này còn thấp hơn nhiều so với số lượng có trong biển và đại dương. Mặc dù chiếm tỷ lệ rất bé, nhưng nhóm bơi lội (như cá biển, cá voi) lại là đối tượng khai thác kinh tế lớn, thu hút sự quan tâm của các tập đoàn khai thác đại dương.
Nhưng nhóm trôi nổi lại đóng vai trò hết sức quan 1. WRI/WB/UNEP/UNDP: World resources in 2000 - 2001, Washington DC, 2000. 8 trọng - là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của biển và đại dương. Câu hỏi 2: Tài nguyên thiên nhiên là gì? Trả lời: Lịch sử xuất hiện và phát triển loài người gắn liền với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học và công nghệ, nhận thức của con người về tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên biển nói riêng cũng thay đổi. Ban đầu, người ta quan niệm tài nguyên thiên nhiên là những dạng vật chất cụ thể của tự nhiên mà con người có thể sử dụng để chế tác ra các vật dụng hằng ngày phục vụ cho cuộc sống. Đây là quan niệm được biết đến theo “nghĩa hẹp” và hoàn toàn trực quan. Cho nên, chỉ những dạng vật chất nhìn thấy được như cây cối, quặng hoặc chim thú,.
mới được hiểu là tài nguyên. Còn những yếu tố không nhìn thấy được như các chức năng, giá trị sinh thái và dịch vụ của một hệ tự nhiên nào đó thì không được xếp vào quan niệm trên. Quá trình phát triển của xã hội loài người, cùng với những tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ, quan niệm về tài nguyên thiên nhiên đó thay đổi và được hiểu theo nghĩa rộng. Rằng, tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ các dạng vật chất hữu dụng cho con người, cũng như các yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ cho chính sự phát triển của họ.
Theo quan niệm này thì tài nguyên thiên nhiên cũng là những 9 hợp phần của môi trường tự nhiên và các dạng phi vật chất mà con người có thể sử dụng trực tiếp hay gián tiếp cho cuộc sống và phát triển của họ. Như vậy, các dạng vật chất và các hợp phần của môi trường tự nhiên không hữu dụng hoặc ngược lại có thể gây tác hại cho sự sống và phát triển thì không được quan niệm là tài nguyên thiên nhiên1. Ví dụ: các hợp phần đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, động thực vật trong môi trường tự nhiên đều được gọi tương ứng là tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng và tài nguyên sinh vật. Trường hợp khác: khi đá chứa quặng ở dạng phân tán người ta không quan niệm loại đá này là tài nguyên, nhưng khi công nghệ cho phép lấy được nguồn quặng phân tán ra khỏi loại đá đó hoặc sử dụng nó vào những việc hữu ích thì quan niệm này được thay đổi.
Đứng trước tình trạng nhiều dạng tài nguyên “vật chất” cụ thể bị khai thác cạn kiệt và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng thì nhận thức vừa nêu đã thực sự tháo gỡ cho loài người những bế tắc trong quá trình đi tìm các nguồn tài nguyên mới thay thế. Câu hỏi 3: Tài nguyên thiên nhiên biển là gì? Trả lời: Trữ lượng của một số dạng tài nguyên thiên nhiên trên lục địa, đặc biệt là nguyên liệu khoáng sản 1. Eblen and William R. Eblen (Editors): The Encyclopedia of the Environment, Boston - New York, 1994.
10 và nguồn năng lượng tiếp tục suy giảm và có nguy cơ cạn kiệt. Bởi vậy, con người ngày càng quan tâm tìm kiếm các nguồn tài nguyên thay thế từ biển và đại dương - một kho chứa thực phẩm, thuốc men và khoáng chất của loài người. Trước khi xem xét các dạng cụ thể của tài nguyên thiên nhiên trong đại dương và biển, gọi tắt là tài nguyên biển, cần hiểu tài nguyên thiên nhiên biển là gì. Một cách khái quát, tài nguyên thiên nhiên biển/tài nguyên biển là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên, được hình thành và phân bố trên bề mặt và trong khối nước biển (và đại dương), trên bề mặt đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển.
Tài nguyên biển bao gồm các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, có khả năng tái tạo và không tái tạo, tồn tại ở dạng vật chất/vật thể hoặc phi vật chất/phi vật thể. Ngoài ra, trong biển/đại dương còn có các tài nguyên văn hóa biển, các giá trị khảo cổ biển (các di chỉ khảo cổ biển, các con tàu đắm,. Câu hỏi 4: Tài nguyên sinh vật và phi sinh vật biển là gì? Trả lời: Trong các văn liệu khoa học có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến tên gọi các loại tài nguyên khác nhau, trong một số trường hợp còn gây ra sự nhầm lẫn trong nhận thức cũng như khi sử dụng. Trong thực tế, tên gọi các nhóm và dạng tài nguyên được thể hiện trong các thang phân loại nhất định và dựa trên các nguyên tắc phân loại khác nhau, nhưng 11 thường dựa theo bốn nguyên tắc chính: phân loại theo nguồn gốc phát sinh của tài nguyên, theo bản chất tồn tại, theo mức độ sử dụng và theo tính chất khai thác.