mở đầu bằng nghi thức dâng hương, rước lễ trang nghiêm của các thế hệ con cháu dòng họ Lưu ở xã Văn Yên và nhân dân trong vùng để tỏ lòng thành kính đối với công lao to lớn của danh nhân lịch sử Lưu Nhân Chú; báo công với tố tiên, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao như: đấu vật, kéo co, cờ tướng, chọi gà,. và các màn trình diễn TA nghệ tu đem lại không khí vui tươi đấu yy Nghĩ thức nước lễ xuân mới. tại lễ hội Núi Văn - Núi Võ ® (Ảnh: Trdn Van Minh) Đọc thông tin và khai thác các hình trong mục c, em hãy giới thiệu một số nét chính về lễ hội Núi Văn — Núi Võ.
đ) Lễ hội Đền Đuổm Lễ hội Đến Đuổm (xã Động Đạt, huyện Phú Lương) được tổ chức vào mống 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Lễ hội Đến Đuốm là dịp người dân nơi đây tỏ lòng thành kính, biết ơn người anh hùng Dương Tự Minh, cũng như gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hoà, làng bản ấm no. Thông qua lễ hội những nét văn hoá độc đáo từ lâu đời thể hiện trong trang phục, ấm thực, âm nhạc,. được giữ gìn, lưu truyến và tiếp nối qua nhiếu thế hệ.
EM CÓ BIẾT? Dương Tự Minh là người dân tộc Tây, làm quan trải ba đời vua nhà Lý. Ông được phong làm Thủ lĩnh phủ Phú Lương - một vùng đất rộng lớn. Ông có công lao to lớn trong việc bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Bắc của Đại Việt thế ki XI! và xây dựng phú Phú Lương trở thành vùng đất phồn thịnh. Khi ông mất, nhân dân bày tỏ lòng biết ơn đối với công ơn của ông nên đã lập đến thở ngay chân núi Đuổm.
Người dân Phú Lương tố chức hoạt động để tưởng nhớ Thủ lĩnh Dương Tự Minh vào các ngày trong nam như. mống 6 tháng Giêng, 13 tháng Chạp,. Lễ hội lớn nhất là vào mồng 6 tháng Giêng, tương truyến là ngày sinh của ông. Lễ hội Đến Đuốm (tranh về) (Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên) Tham gia lễ hội không chỉ có nhân dân các xã thuộc huyện Phú Lương mà còn có cả nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Các lễ vật được chuẩn bị rất chu đáo (thường hai loại: cỗ chay và cỗ mặn). Cổ chay thường có một số loại bánh: bánh chè lam, bánh khảo, bánh rán và bánh bỏng, đếu là những đặc sản làm từ nguyên liệu sẵn có của địa phương. Cỗ mặn không thể thiếu những món xôi, thịt,. và được trình bày rất đẹp mắt.
Phần lễ được tổ chức một cách trang nghiêm thành kính với các nghi thức rước kiệu, dâng hương tại đến thờ người anh hùng Dương Tự Minh. Phần hội được tổ chức rất sôi động với nhiều trò chơi dân gian diễn ra ở khu vực sân hội (là khoảng đất rộng phía trước cửa đến) như: tung còn, đấu vật, bắn nỏ, kéo co, đấu cờ,. cùng các hoạt động văn nghệ dân gian (hát trò, hát ví, hát lượn, múa kì lân,. Các phường hát từ xã Cao Kỳ (huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) năm nào cũng về tham gia.
Phần hội thường điễn ra trong nhiều ngày tạo nên không khí vui vẻ, náo nức đầu xuân. Trò chơi day gay Hình 2 1 !. Thi đấu cờ (Nguồn: Phòng Giáo đục và Đào tạo, Phòng Văn hoá Thông tin huyện Phú Lương) Với những giá trị truyền thống đặc sắc, lễ hội Đến Đuốm đã được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia vào năm 2017.1 1, đọc thông tin trong mục di và trả lời các câu hỏi sau: 1. Lễ hội Đến Đuốm nhằm tôn vinh và tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc nào? Em hãy giới thiệu khái quát về vị anh hùng dân tộc đó.
Em hãy giới thiệu những nét chính về lễ hội Đến Đuốm. e) Lễ hội Xuống đồng ở thành phố Phổ Yên Hằng năm, lễ hội Xuống đồng của nhân dân thành phố Phố Yên được tổ chức vào sáng mồng 3 Tết. Đây là lễ hội nhằm tôn vinh nghế nông, gắn với tín ngưỡng cấu mùa trong sản xuất nông nghiệp của người Kinh, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi,. Sau những nghi lễ trang trọng để khai hội, nghỉ lễ cày đường cày đấu tiên của năm mới sẽ được tổ chức trong sự cổ vũ của đông đảo nhân dân trên cánh đồng xóm Thanh Hoa (phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên).
Mặc dù, hiện nay trong sản xuất nông nghiệp ở Thái Nguyên, các công việc làm đất, cày bừa phần lớn đã được thực hiện bằng máy móc, nhưng các màn thi cày, bừa bằng trâu, bò, thi cấy bằng tay vẫn được tổ chức tại lễ hội Xuống đồng và thu hút sự tham gia, cổ vũ nhiệt tình của hàng nghìn người dân. Điếu này cho thấy, những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của cha ông vẫn được gìn giữ và lưu truyền. Thi bừa tại lễ hội Xuống đồng Hinh 2. Thi cấy tại lễ hội Xuống đồng (Ảnh: Trắn Văn Minh) Ngoài ra, trong thời gian diễn ra lễ hội, một số hoạt động văn hoá, văn nghệ được tổ chức nhằm đem lại không khí vui tươi, phấn khởi ngày đấu xuân.
Lễ hội cũng là dịp bà con nông dân trong huyện quảng bá nhiều nông sản đặc trưng của địa phương.13, em hãy mô tả một số hoạt động chính của lễ hội Xuống đồng ở thành phố Phố Yên. Lễ hội Xuống đồng gắn với tín ngưỡng nào? Hãy kế tên một số lễ hội khác ở Thái Nguyên cùng loại hình với lễ hội này? @). Lập bảng thống kê về các lễ hội truyền thống tiêu biểu ở tỉnh Thái Nguyên theo gợi ý sau: Tên lễ hội Địa điểm Thời gian _ ea nh Ý nghĩa ? ? ? ? ? 2. Theo em, lễ hội Lồng tống ở huyện Định Hoá có điểm nào giống và khác biệt so với lễ hội Xuống đồng ở thành phố Phổ Yên? Những nét khác biệt đó nói lên điều gì trong đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc ở Thái Nguyên? @ - 1.
Ở địa phương em có lễ hội nào? Em hãy sưu tấm tư liệu và giới thiệu về lễ hội đó. Em thích tham gia vào hoạt động nào nếu được trải nghiệm lễ hội đó? 2. Em hoặc nhóm bạn hãy đế xuất một số biện pháp phù hợp để chung tay giữ gìn, phát huy các giá trị đặc sắc của lễ hội truyến thống của quê hương Thái Nguyên. e Nhận diện, phân tích được các lỗi phát âm ở một số vùng miến Thái Nguyên trong giao tiếp thường ngày.
e Khắc phục được một số lỗi phát âm, lỗi chính tả do cách phát âm. e Phân biệt được lỗi phát âm, lỗi chính tả do cách phát âm vùng miến với các trường hợp do cấu tạo đường phát âm bẩm sinh. e Có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, viết đúng chính tả và phát âm chuẩn khi nói. @) ; Cùng bạn trao đổi: a) Những từ ngữ sau sai chính tả ở tiếng nào? Hãy sửa lại cho đúng.
trưng bây, dòng chầy, nhẩy múa, giang tay, cấy cuốc, đôi giây. b) Hãy đoán xem vì sao chúng ta dẻ viết sai những từ ngữ đó. % ‘ TU NGU DIA PHUONG 1. Khái quát về đặc điểm ngôn ngữ Thái Nguyên Tiếng Việt từ lâu đã là ngôn ngữ phổ thông của người dân cả nước cũng như của Thái Nguyên, dù việc sử dụng tiếng Việt có thế không đống đếu ở các dân tộc, các lứa tuổi.
Hiện tượng này diễn ra mạnh mẽ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 khi có sự xáo động về dân cư và tiếp xúc xã hội. Thông qua hệ thống giáo dục, phạm vi tiếng Việt ngày càng mở rộng, trở thành nhân tố tác động đến các ngôn ngữ khác. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 51 dân tộc sinh sống. Trong đó 7 dân tộc thiểu số chiếm số dân cư đông nhất là: Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa.
Riêng dân tộc Tày chiếm số lượng lớn thứ hai, chỉ sau dân tộc Kinh. Sự đa dạng vế dân tộc dẫn đến sự ảnh hưởng lẫn nhau về ngôn ngữ giữa các dân tộc. Quá trình hình thành, khai phá lãnh thố ở Thái Nguyên, bên cạnh quá trình định cư, sản xuất, đô thị hoá, hình thành các khu công nghiệp đã dẫn đến trạng thái phân bố đan xen giữa các dân tộc. Việc sử dụng tiếng Việt là tiếng phố thông cùng với một vài ngôn ngữ khác như tiếng Tày, Nùng đã được người dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên sử dụng trong giao tiếp hằng ngày.
Về mặt ngữ âm, tiếng Tày không có thanh ngã như tiếng Việt nên khi người Tày phát âm tiếng Việt, ở những tiếng có thanh ngã sẽ thường chuyển sang thanh sắc. Ví dụ: ngỡ ngàng —> ngớ ngàng; lễ hội —› lẽ hội; đỗ tương —> đố tương. Do thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ, học sinh dân tộc Tày khi nói, viết dễ mắc một số lỗi như: xói —> xưới, quên —> quyên; quyết —> quết. Tiếng Tày không có phụ âm /g/ nên khi đọc, nói tiếng Kinh, học sinh dân tộc Tày thường chuyển thành /ng/ hoặc /k/.
Vế mặt từ ngữ, do quá trình tiếp xúc lâu dài nên giữa tiếng Tày và tiếng Kinh có sự giao lưu sâu sắc. Tiếng Tày đã nhận về mình vốn từ Hán Việt để làm giàu thêm vốn từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm. Theo thời gian, sự giao lưu, thẩm thấu sâu sắc đến mức khó lòng nhận ra trường hợp nào từ có nguồn gốc tiếng Tày - Nùng và ngược lại, trường hợp nào từ có nguồn gốc Hán Việt. Ví dụ: pây tàng (tàng - đường), pây lỏ (lỏ — lộ), khai tu (khai - mởi.
Cũng trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Kinh - Tày, tiếng Tày đã tác động trở lại, theo kiểu kết hợp các tiếng đống nghĩa để tạo thành từ ghép chính phụ, trong đó yếu tố đứng sau có nguồn gốc tiếng Tày vẫn còn rõ nghĩa. Ví dụ: đao pha, đòn càn, lược bí, ống bang, mặt nạ, mưa phùn,. Hoặc yếu tố đứng sau đã bị mất nghĩa, ví dụ: trắng nõn, trắng phau, trắng lốp, xanh lè, thơm phức. Sự kết hợp còn diễn ra theo kiểu ghép yếu tố tiếng Kinh với yếu tố tiếng Tày vẫn còn rõ nghĩa đế tạo ra từ ghép đẳng lập.
Ví dụ: củi đuốc, bơi lội, xối xả, sợ hãi, đưa đón, mit mờ, trông coi,. Cũng có khi, sự kết hợp giữa tiếng Kinh với tiếng Tày tạo nên từ ghép đẳng lập mà yếu tố sau có nguồn gốc tiếng Tày nhưng đã bị mất nghĩa.