Mở đầu Quan sát 2 hình ảnh sau và nêu nhận xét về diện mạo đô thị Hà Nội vào đầu thế kỉ XX. Khu phố cổ Hà Nội đầu thế kỉ XX Hình 2. Phố Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền) đầu thế kỉ XX Kiến thức mới Nhằm thiết lập bộ máy cai trị thống nhất trên phạm vi ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, ngày 17 – 10 – 1887, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương. Ngày 1– 10 – 1888, vua Đồng Khánh kí Đạo dụ thừa nhận chủ quyền hoàn toàn của Pháp ở Hà Nội: “Những lãnh thổ thuộc các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng được chuyển thành đất nhượng địa của người Pháp, Chính phủ An Nam nhường cho Chính phủ Pháp, từ chối mọi quyền hành trên những vùng đất đó.
12 1 Những thay đổi trong quy hoạch đô thị Hà Nội cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Sau khi bị thực dân Pháp đánh chiếm lần thứ nhất năm 1873, theo Hiệp ước Giáp Tuất (1874) và các thoả thuận trong năm 1875, triều Nguyễn phải cấp một diện tích rộng khoảng 5 mẫu đất nằm ở gần bờ sông Hồng (gọi là khu vực Đồn Thuỷ, nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) cho người Pháp làm khu nhượng địa đóng quân và đặt Toà Công sứ. Đầu thế kỉ XX, nhất là từ khi Phủ Toàn quyền Đông Dương chuyển ra đặt tại Hà Nội (1902), diện mạo đô thị Hà Nội có nhiều thay đổi cho tương xứng với vai trò là thủ phủ của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Về quy hoạch: Quy hoạch thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc thành 3 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 1875 – 1888, giai đoạn 2 từ năm 1888 – 1920 và giai đoạn cuối cùng từ năm 1920 – 1945. Giai đoạn 1: Cùng với việc triển khai những công trình kiến trúc tiêu biểu trong khu nhượng địa, năm 1886 chính quyền Pháp cho xây dựng một con đường rộng 10 m xung quanh hồ Hoàn Kiếm và không cho phép xây dựng các công trình khác, dù là nhà tranh, dọc theo khu vực này.
Cổng vào khu nhượng địa Hình 2. Đường vành đai quanh hồ Hoàn Kiếm Giai đoạn 2: Từ năm 1888 – 1920, đặc biệt trong hai thập niên đầu thế kỉ XX, với mục đích tập trung xây dựng và mở rộng Hà Nội để xứng tầm là thủ phủ của Liên bang Đông Dương, thành phố Hà Nội được quy hoạch thành 2 khu: khu vực dành cho người châu Âu và khu vực dành cho người bản xứ (chủ yếu là khu 36 phố phường). Khu phố cổ phía bắc hồ Hoàn Kiếm được giữ gần như nguyên trạng, chỉ chỉnh trang cho đẹp hơn. Còn trên các tuyến phố khác, đường phố được quy hoạch theo ô bàn cờ và phân khu theo chức năng như hành chính, buôn bán, sản xuất công nghiệp, giải trí và cư trú cho người châu Âu và người Việt Nam.
Có hai trung tâm hành chính – chính trị: (1) Khu phía đông hồ Hoàn Kiếm với vườn hoa Pôn Be (vườn hoa Lý Thái Tổ hiện nay) làm trung tâm, bao gồm các toà nhà theo phong cách kiến trúc Pháp như Phủ Thống sứ Bắc Kì, Nhà Bưu điện Trung tâm, Toà Đốc lí Hà Nội, Khách sạn Mê-trô-pôn, Ngân hàng Đông Dương,… (2) Khu phía 13 nam hồ Tây có tâm điểm là Dinh Toàn quyền Đông Dương và các cơ quan trực thuộc, Sở Tài chính Đông Dương (trụ sở Bộ Ngoại giao hiện nay). Giai đoạn 3: Từ năm 1920 – 1945, điểm nhấn là năm 1942, Toàn quyền Đông Dương phê chuẩn và công bố các quy định trong đồ án quy hoạch và mở rộng thành phố Hà Nội và vùng ngoại ô. Thành phố Hà Nội được chia làm 11 khu mang kí hiệu từ A đến Z: bao gồm các khu hành chính, khu buôn bán, khu công nghiệp, khu dân cư và khu vui chơi giải trí,… Cũng trong năm 1942, sáp nhập Đại lí Hoàn Long vào Hà Nội, địa giới thành phố được mở rộng về phía tây và phía nam. Về không gian đô thị, trong giai đoạn này, Hà Nội mở rộng về phía tây đến quá Cầu Giấy, về phía đông và đông bắc đến Gia Lâm, ở phía Nam kéo đến tận hồ Bảy Mẫu.
Để chuẩn bị cơ sở hoạt động cho bộ máy chính quyền thuộc địa và các tổ chức văn hoá, giáo dục, y tế của Liên bang Đông Dương, xứ Bắc Kì và thành phố Hà Nội, Pháp đã cho xây dựng các công trình lớn nhỏ trong đó có hai cụm công trình lớn và tiêu biểu nhất là Phủ Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch) và Phủ Thống sứ Bắc Kì (nay là Nhà khách Chính phủ). Phủ Toàn quyền Đông Dương Hình 2. Phủ Thống sứ Bắc Kì được Pháp được thiết kế và xây dựng giai đoạn xây dựng vào đầu thế kỉ XX ở Hà Nội 1901 – 1906 ở Hà Nội Tính đến đầu thập niên 40 của thế kỉ XX, Pháp đã cho xây dựng ở Hà Nội khoảng 50 công trình lớn nhỏ, làm trụ sở cho các ngành kinh tế, văn hoá, giáo dục. Tiêu biểu cho các công trình kiến trúc mang “phong cách Đông Dương” là Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử), Sở Tài chính Đông Dương (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Viện Pasteur (nay là Viện Vệ sinh dịch tễ), Nhà thương René Robin (nay là Bệnh viện Bạch Mai) và nhất là toà nhà Đại học Đông Dương (nay là trụ sở Đại học Quốc gia Hà Nội).
Đầu thế kỉ XX, hệ thống giao thông của Hà Nội được đầu tư quy hoạch. Ngoài hệ thống đường phố hình bàn cờ được mở rộng, dải nhựa rộng rãi hơn thì có hệ thống tàu điện, nhà ga xe lửa và đặc biệt có cây cầu sắt bắc qua sông Hồng. Cầu Long Biên bắc qua sông Hồng Hình 2. Tàu điện Hà Nội Như vậy, thời Pháp thuộc, từ một đô thị thời phong kiến, Hà Nội đã từng bước được quy hoạch và xây dựng thành một đô thị theo kiểu hiện đại, ít nhiều mang dáng dấp của một Pa-ri hoa lệ.
Trình bày nét mới trong quy hoạch của Hà Nội khi là thủ phủ của Liên bang Đông Dương thời Pháp thuộc. 2 Bộ máy chính quyền ở Hà Nội thời Pháp thuộc Cùng với quá trình quy hoạch và cải tạo thành phố, chính quyền thực dân Pháp cũng xúc tiến việc xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, biến Hà Nội trở thành trung tâm chính trị – hành chính của xứ Bắc Kì và Liên bang Đông Dương. Ngày 17 – 10 – 1887, Liên bang Đông Dương được thành lập, do viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu. Giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương có Văn phòng Phủ Toàn quyền, các nha và các cơ quan phụ tá.
Thời gian đầu, dinh Toàn quyền nằm ở khu nhượng địa. Dưới thời Toàn quyền Paul Doumer, dinh Toàn quyền được chuyển đến gần vườn Bách Thảo. Công trình này bắt đầu khởi công vào năm 1901 và hoàn thành năm 1906. Bộ máy chính quyền thực dân ở Bắc Kì đặt tại Hà Nội.
Đứng đầu hệ thống chính quyền ở Bắc Kì là viên Thống sứ, đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Trước đó, cuối thế kỉ XIX, bên cạnh viên Thống sứ đứng đầu hệ thống chính quyền Pháp, triều Huế còn đặt chức Kinh lược sứ làm nhiệm vụ giao thiệp với Pháp và phụ trách các công việc cai quản xứ Bắc Kì. Chế độ Kinh lược sứ được thiết lập năm 1886 và kết thúc năm 1897. Trong hơn một thập kỉ tồn tại, Nha Kinh lược đóng ở phố Tràng Thi (nay là Thư viện Quốc gia) dưới sự cai quản của ba nhân vật đứng đầu – đều là quan đại thần triều Nguyễn, lần lượt là Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Hữu Độ và Hoàng Cao Khải.
Chức năng chủ yếu của cơ quan này là chuyển lệnh của triều đình 15 xuống các địa phương cũng như nhận báo cáo của các địa phương để gửi về triều đình sau khi trao đổi với viên Thống sứ Bắc Kì. Ngày 26 – 7 – 1897, vua Thành Thái ra Đạo dụ bãi bỏ chức Kinh lược sứ và chuyển toàn bộ quyền hạn cho Thống sứ Bắc Kì. Các nhân viên của Nha Kinh lược cũng chuyển sang làm việc cho Toà Thống sứ và do Thống sứ quản lí. Đối với chính quyền thành phố Hà Nội, trong những năm 1884 – 1886, bên cạnh Công sứ Pháp, triều Nguyễn vẫn còn bổ nhiệm viên Tổng đốc Hà Yên (Hà Nội – Hưng Yên).
Đến năm 1888, chính quyền Hà Nội đặt dưới sự quản lí toàn diện của viên Công sứ – Đốc lí. Tính từ năm 1885 đến ngày giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã có tới 50 người đảm nhiệm chức vụ Đốc lí Hà Nội, vị Đốc lí cuối cùng và cũng là người Việt Nam duy nhất là Trần Văn Lai. Đốc lí Hà Nội do Thống sứ Bắc Kì đề cử và Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm. Về quyền hạn và trách nhiệm, Đốc lí là người đứng đầu bộ máy chính quyền thành phố, chịu trách nhiệm trước Thống sứ Bắc Kì về mọi mặt hoạt động của thành phố, giúp việc cho viên Đốc lí là toà Đốc lí.
Toà Đốc lí Hà Nội – công trình được hoàn thành vào năm 1887 Bộ máy chính quyền của thực dân Pháp ở Đông Dương, Bắc Kì và của chính quyền thành phố đều đóng trên địa bàn Hà Nội, đã quản lí và điều hành mọi hoạt động của cả Đông Dương trong suốt thời kì Pháp thuộc. 3 Hà Nội – Trung tâm kinh tế và dân cư của Bắc kì và Việt Nam a) Về kinh tế Cho đến thập niên 90 của thế kỉ XIX, tiềm lực kinh tế chủ yếu của Hà Nội vẫn dựa vào khu vực kinh tế truyền thống với ba trụ cột chính là thủ công nghiệp, nông nghiệp và thương mại , gắn liền với mạng lưới chợ và cửa hiệu nội đô. Hệ thống chợ ở Hà Nội được tăng cường và quy hoạch có hệ thống. Đến cuối thế kỉ XIX, chính quyền 16 thuộc địa đã cho gom các chợ ở nội thành Hà Nội thành 4 chợ chính là chợ Hàng Tre, chợ Đường Thành (Cửa Đông), chợ ở đại lộ Đồng Khánh (phố Hàng Bài) và chợ ở phố hàng Gạo (chợ Đồng Xuân).
Chợ Đồng Xuân được xây dựng năm 1889, gần bến đò chính sông Hồng. Chợ Đồng Xuân đều thế kỉ XX Hàng hoá bán tại các chợ rất phong phú, bên cạnh những mặt hàng truyền thống như nông sản, hàng thủ công, đã xuất hiện các hàng hoá ngoại nhập từ Hồng Kông, Nhật Bản, thậm chí từ một vài nước châu Âu. Trong thành phố, bắt đầu xuất hiện một số cơ sở công nghiệp nhẹ phục vụ hoạt động của bộ máy chính quyền thuộc địa và đời sống của cộng đồng người châu Âu.