mở đầu nhằm hướng đến nguồn gốc chung của cả thông tin và dữ liệu. Đó là các sự vật, sự việc có thực trong thế giới quanh ta. Câu trả lời chung nhất là: Thế giới quanh ta gồm người, vật, sự việc,… là nguồn thông tin. Dữ liệu là nguồn thông tin, dữ liệu cũng là một phần trong thế giới quanh ta.
Nguồn thông tin và dữ liệu GV có thể lấy ví dụ bất kì sự việc nào rất quen thuộc hoặc có tính thời sự. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là: có nhiều thông tin phát sinh từ một sự việc. Con người tạo ra các thiết bị thu nhận tín hiệu với mục đích để có thông tin, không bỏ lỡ thông tin. Mục này cũng cho thấy có sự khác nhau tinh tế giữa dữ liệu và nguồn thông tin tiềm năng.
Dữ liệu chỉ xuất hiện khi có sự thu giữ tín hiệu vật lí nhằm mục đích lấy ra thông tin. Thông tin tiềm năng sẽ bị mất nếu không có sự thu giữ. Quan hệ giữa thông tin và dữ liệu a) Từ thông tin thành dữ liệu Nên nhấn mạnh: cần chuyển thông tin trong bộ não con người thành dữ liệu mới có thể lưu trữ hay gửi thông tin đi. Thông tin là lí do tồn tại của dữ liệu.
Dữ liệu để biểu diễn và trao đổi thông tin. GV cần cho ví dụ minh hoạ ba dạng dữ liệu khác nhau cùng mang một thông tin. Đây là một khía cạnh khác nhau giữa thông tin và dữ liệu. b) Từ dữ liệu đến thông tin Mục này phân tích việc rút ra thông tin từ dữ liệu nhận được khi trao đổi thông tin.
Ví dụ được chọn nhằm mục đích làm rõ từ một nguồn dữ liệu có thể biết được nhiều thông tin khác nhau. Đó có thể là các thông tin ngoài mục đích của người gửi tin. Đây là một sự phân biệt khá tinh tế dữ liệu với thông tin. Hoạt động mở đầu là nêu vấn đề.
Ở đây trình bày những điểm để HS hiểu rõ hơn về bài toán xử lí thông tin. Điều cần chốt lại là, xử lí dữ liệu với xử lí thông tin thường được dùng lẫn lộn, không phân biệt rành mạch khi không cần thiết. Phân biệt dữ liệu với thông tin Về bản chất, trong lưu trữ và trao đổi thông tin của con người, thông tin là nội dung, dữ liệu là hình thức thể hiện; dữ liệu là thông tin dưới dạng chứa trong phương tiện mang tin; thông tin có thể được biểu diễn dưới các dạng khác nhau. Dưới góc nhìn của bài toán xử lí thông tin, dữ liệu là đầu vào, thông tin là kết quả đầu ra.
Không yêu cầu HS phải hiểu sâu bản chất như nói ở trên. YCCĐ đối với HS là biết các ví dụ minh hoạ và nêu được các ví dụ minh hoạ tương tự. Tin học và xử lí thông tin trong tin học Trình bày các giải nghĩa khái niệm một cách “chính thống” “Tin học” là gì, “Công nghệ thông tin” là gì. Không yêu cầu học thuộc lòng.
Các bước xử lí thông tin của máy tính Với con người, quá trình xử lí thông tin diễn ra trong bộ não nên rất khó chia thành từng bước. Với máy tính, có thể chia thành các bước rõ ràng. Tháp dữ liệu ‒ thông tin ‒ tri thức Dữ liệu, thông tin, tri thức và tháp dữ liệu ‒ thông tin ‒ tri thức đều là những khái niệm cơ sở trong tin học. Mục đích trình bày ở đây chỉ để HS biết, nắm bắt một cách đại lược rằng việc tinh lọc dần từ dữ liệu thành thông tin, từ thông tin thành tri thức là một quá trình diễn ra thường xuyên trong cuộc sống con người.
HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP TRONG SGK Bài 1. Gửi tin nhắn qua điện thoại cho bạn là chuyển thông tin thành dữ liệu dạng văn bản; gọi điện thoại báo tin cho bạn là chuyển thông tin thành dữ liệu dạng âm thanh. Đầu vào của một bài toán xử lí thông tin là nguồn dữ liệu. Đầu ra của một bài toán xử lí thông tin là điều ta muốn biết, là yêu cầu đầu ra của bài toán.
17 Câu hỏi mở, tuỳ theo mục đích đặt ra như đã gợi ý. Ví dụ: điểm trung bình của lớp cho mỗi môn học; điểm thấp nhất của mỗi môn; số HS có điểm dưới 5;. Con người chuyển thông tin chuyển thành dữ liệu khi muốn lưu trữ hay trao đổi (gửi đi) thông tin. Ở bước nhận tin, dữ liệu lại chuyển thành thông tin trong bộ não con người.
Các bước xử lí thông tin của máy tính gồm xử lí đầu vào để chuyển thành dữ liệu số hoá, xử lí dữ liệu số hoá, xử lí lưu trữ và xử lí đầu ra để chuyển thành thông tin mà con người hiểu được. SỰ ƯU VIỆT CỦA MÁY TÍNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CỦA TIN HỌC A. GIẢI THÍCH CÁC KHÁI NIỆM KHÓ VÀ LƯU Ý VỀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT Bài học gồm hai phần. Phần đầu nhằm nêu được sự ưu việt của việc lưu trữ, xử lí và truyền thông tin bằng thiết bị số.
Khi trình bày khả năng lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ của thiết bị số sẽ kết hợp đáp ứng yêu cầu cần đạt “Chuyển đổi được giữa các đơn vị lưu trữ thông tin: B, KB, MB,. Phần thứ hai nhằm trình bày những thành tựu nổi bật ở một số mốc thời gian, qua đó minh hoạ sự phát triển của ngành tin học. GỢI Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, HỌC TẬP Câu hỏi thành tựu nổi bật nhất của ngành tin học là gì có thể trả lời rất khác nhau tuỳ theo từng HS quan niệm tin học là gì. GV khuyến khích HS đưa ra các câu trả lời khác nhau dựa trên một số điểm chính liệt kê trong mục 2.
Từ đó đặt vấn đề tại sao máy tính làm được như vậy để dẫn dắt đến nội dung về sự ưu việt của máy tính trong việc lưu trữ, xử lí và truyền thông tin. Sự ưu việt của máy tính a) Máy tính tính toán rất nhanh Xuất phát từ một thực tế là khi mua máy tính, người ta rất chú trọng đến bộ xử lí, thường chọn đời mới nhất, hiện đại nhất, tốc độ bộ xử lí (đo bằng Hertz) cao nhất và thường đồng nhất tốc độ bộ xử lí với tốc độ tính toán của máy tính. Câu trả lời thường gặp là: Khi mua máy tinh cá nhân, thông số tốc độ bộ xử lí thường được cho là quan trọng nhất. Kết luận “máy tính rất nhanh và ngày càng nhanh hơn” được tiếp nhận một cách tự nhiên là điểm ưu việt quan trọng nhất trong xử lí, lưu trữ và truyền thông tin.
b) Thiết bị số có thể lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ Mục này không lặp lại lớp 6 mà chỉ bổ sung thêm hai ý: – Vì máy tính dùng số nhị phân nên các bội số đơn vị đo là 210 = 1 024, là luỹ thừa của 2 gần với 1 000 nhất. Từ đó có công thức chuyển đổi các đơn vị đo lượng dữ liệu một cách chính xác. – Giới thiệu thêm các đơn vị đo lượng dữ liệu rất lớn, xứng đáng gọi là “khổng lồ” và bổ sung thêm vào bảng liệt kê. 18 c) Máy tính có khả năng làm việc tự động và chính xác Chú ý rằng máy tính, các thiết bị số có khả năng cảm ứng, tương tác với môi trường xung quanh và tự động thực hiện nhiều việc.
Đây cũng là một tiện lợi lớn. Phát triển tiếp ý này sẽ dẫn đến các thiết bị thông minh. Tuy nhiên, bài học dừng ở đây vì trong phần sau, các thiết bị thông minh sẽ được đề cập đến khi trình bày về cách mạng công nghiệp 4.0 với máy móc, thiết bị thông minh đóng vai trò chính. Những thành tựu của tin học Có mục đích kép, nhắc đến Internet và đồng thời liên hệ đến thực tế Việt Nam.
Nội dung mục này chi tiết thêm bằng cách điểm qua một vài mốc lịch sử phát triển Internet: WWW, máy tìm kiếm, mạng xã hội. HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP TRONG SGK Bài 2. Cụ thể là các máy chủ của các ngân hàng, siêu thị lớn, doanh nghiệp lớn làm việc liên tục trong suốt 24 giờ một ngày và nhiều ngày liên tiếp. Mở cửa sổ làm việc của File Explorer; nháy phải chuột lên biểu tượng This PC; nháy chuột chọn Properties trong bảng chọn nổi lên sẽ thấy: 1) Ví dụ: “Procesor Intel.
Kết quả: Tốc độ bộ xử lí là 3. 2) Ví dụ: “Installed Memory (RAM): 4. Kết quả: Dung lượng RAM là 4. THỰC HÀNH SỬ DỤNG THIẾT BỊ SỐ A.
GIẢI THÍCH CÁC KHÁI NIỆM KHÓ VÀ LƯU Ý VỀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT Bài thực hành gồm hai phần. Phần đầu là thực hành sử dụng máy tính đúng cách. Phần sau là sử dụng điện thoại thông minh. Bài học thuộc phạm vi “học vấn số hoá phổ thông”.
Theo yêu cầu cần đạt nêu trong chương trình, mục tiêu cụ thể về kiến thức và kĩ năng của bài thực hành này ở mức cơ bản. Bài học nhấn mạnh khía cạnh sử dụng máy tính sao cho đúng cách, tạo thuận lợi trong công việc. Bài học đồng thời cung cấp một số kiến thức ở mức nâng cao hơn, là tư liệu để dạy học phân hoá, tuỳ theo đối tượng HS. Với việc sử dụng điện thoại thông minh, máy tính, mục tiêu cụ thể là sử dụng được điện thoại thông minh để giao tiếp hàng ngày và để phục vụ học tập.
GỢI Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, HỌC TẬP 1. Thực hành sử dụng máy tính đúng cách a) Những điều cần biết Cách dùng màn hình nền và thanh nhiệm vụ đúng cách để thuận tiện hơn trong công việc. Yêu cầu ở đây là HS nhận biết thêm một vài thành phần ít được chú ý đến, biết rằng máy tính đã có sẵn những công cụ như vậy phòng khi cần đến. 19 b) Em cần chú ý Đây là các hướng dẫn chung để sử dụng máy tính đúng cách.
Điều quan trọng là GV cần kiểm tra và có đánh giá chung để đảm bảo HS đã hoàn thành từng nhiệm vụ thực hành trước khi chuyển sang nhiệm vụ tiếp theo. Giả định là máy bị treo, không cần phải làm máy bị treo thật. GV chỉ cần hướng dẫn HS xem thông tin các tác vụ đang hoạt động trong hộp thoại Task Manager và có thể thử kết thúc một ứng dụng nào đó đang hoạt động và kiểm tra kết quả. Bài thực hành theo kiểu khám phá, không nêu cụ thể nhiệm vụ thực hành.
Các thao tác thực hành tự do hơn, HS cần chủ động và sáng tạo hơn. GV nên trình chiếu làm mẫu trước. Đây cũng là tư liệu phục vụ dạy học phân hoá, GV vận dụng linh hoạt, sáng tạo, tuỳ theo đối tượng HS.