Nghiên cứu tác dụng chống sốt rét và độc tính của hợp chất 10β 2β hydroxy 3 imidazol propyl deoxoartemisinin

Nghiên cứu tác dụng chống sốt rét và độc tính của hợp chất 10β 2β hydroxy 3 imidazol propyl deoxoartemisinin mang lại nhiều thông tin quý giá.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ dược học

2022

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN BỆNH SỐT RÉT

2.1. Vài nét khái quát về bệnh sốt rét

2.2. Thuốc điều trị sốt rét

2.3. Thực trạng bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam

2.4. Tình trạng kháng thuốc của kí sinh trùng sốt rét

3. ĐẶC ĐIỂM CỦA ARTEMISININ VÀ DẪN XUẤT

3.1. Một số dẫn xuất của Artemisinin

3.2. Cơ chế tác dụng của Artemisinin và dẫn xuất

3.3. Đặc điểm dược động học và tác dụng dược lý của Artemisinin và dẫn xuất. Nhược điểm của artemisinin và dẫn xuất

4. TỔNG QUAN VỀ HỢP CHẤT 10β - [(2'β - HYDROXY-3'-IMIDAZOL) PROPYL] DEOXOARTEMISININ (HỢP CHẤT 32)

4.1. Tình hình nghiên cứu dẫn xuất 10 - deoxoartemisinin

4.2. Cấu trúc và tính chất của hợp chất (32)

4.3. Tình hình nghiên cứu về hợp chất (32)

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

5.2. Mẫu nghiên cứu

5.3. Chủng kí sinh trùng sốt rét và động vật thí nghiệm. Hóa chất và thuốc thử

5.4. Thiết bị thí nghiệm

6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

6.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1.1. Lựa chọn liều thử

6.1.2. Thiết kế các thí nghiệm. Phương pháp xử lý số liệu

6.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

6.2.1. ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG SỐT RÉT IN VIVO CỦA (32)

6.2.2. ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA (32) TRÊN THỎ

6.2.2.1. Ảnh hưởng của (32) đến thể trạng chung của thỏ
6.2.2.2. Ảnh hưởng của (32) đến thông số huyết học của thỏ
6.2.2.3. Ảnh hưởng của (32) đến chức năng gan của thỏ
6.2.2.4. Ảnh hưởng của (32) đến chức năng thận của thỏ
6.2.2.5. Ảnh hưởng của (32) đến điện tim thỏ

6.2.3. ĐÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA (32) TRÊN QUÁ TRÌNH SINH SẢN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHUỘT NHẮT TRẮNG

6.2.3.1. Ảnh hưởng của hợp chất (32) đến quá trình sinh sản
6.2.3.2. Ảnh hưởng của hợp chất (32) đến quá trình phát triển

7. TÁC DỤNG CHỐNG SỐT RÉT IN VIVO CỦA (32)

8. ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA (32) TRÊN THỎ

8.1. Ảnh hưởng của (32) đến thể trạng chung

8.2. Ảnh hưởng của (32) đến các thông số huyết học

8.3. Ảnh hưởng của (32) đến chức năng gan

8.4. Ảnh hưởng của (32) đến chức năng thận

8.5. Ảnh hưởng của (32) đến điện tim

9. ĐỘC TÍNH TRÊN SINH SẢN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA (32) TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG

9.1. Độc tính của (32) trên quá trình sinh sản

9.2. Độc tính của (32) trên quá trình sinh phát triển

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng chống sốt rét của deoxoartemisinin

Tác dụng chống sốt rét của deoxoartemisinin đã được nghiên cứu và chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng. Hợp chất này là một dẫn xuất của artemisinin, nổi bật với khả năng tiêu diệt ký sinh trùng Plasmodium, nguyên nhân chính gây bệnh sốt rét. Nghiên cứu cho thấy deoxoartemisinin có hiệu quả cao trong việc điều trị sốt rét, đặc biệt là các chủng kháng thuốc. Hợp chất này không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn ngăn ngừa sự phát triển của ký sinh trùng trong cơ thể người. Việc tìm hiểu sâu về cơ chế tác dụng và hiệu quả của deoxoartemisinin là rất cần thiết để phát triển các phương pháp điều trị mới.

1.1. Cơ chế tác dụng của deoxoartemisinin trong điều trị sốt rét

Cơ chế tác dụng của deoxoartemisinin liên quan đến khả năng tạo ra các gốc tự do, gây tổn thương cho màng tế bào của ký sinh trùng. Hợp chất này tương tác với các thành phần trong tế bào ký sinh trùng, dẫn đến sự chết của chúng. Nghiên cứu cho thấy rằng deoxoartemisinin có thể tiêu diệt ký sinh trùng Plasmodium falciparum, loại ký sinh trùng gây sốt rét ác tính, hiệu quả hơn so với nhiều loại thuốc khác.

1.2. So sánh hiệu quả của deoxoartemisinin với artemisinin

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng deoxoartemisinin có hiệu quả điều trị tương đương hoặc cao hơn so với artemisinin trong việc tiêu diệt ký sinh trùng sốt rét. Hợp chất này cho thấy khả năng kháng thuốc thấp hơn, giúp duy trì hiệu quả điều trị lâu dài. Việc so sánh này rất quan trọng trong bối cảnh kháng thuốc ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các khu vực có tỷ lệ mắc sốt rét cao.

II. Thách thức trong việc sử dụng deoxoartemisinin chống sốt rét

Mặc dù deoxoartemisinin có nhiều ưu điểm, nhưng việc sử dụng nó trong điều trị sốt rét vẫn gặp phải một số thách thức. Tình trạng kháng thuốc của ký sinh trùng là một trong những vấn đề lớn nhất. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số chủng ký sinh trùng đã phát triển khả năng kháng lại các loại thuốc điều trị, bao gồm cả artemisinin và các dẫn xuất của nó. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn.

2.1. Tình trạng kháng thuốc của ký sinh trùng sốt rét

Kháng thuốc là một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị sốt rét. Các chủng Plasmodium falciparum đã ghi nhận tình trạng kháng artemisinin, dẫn đến việc giảm hiệu quả điều trị. Việc nghiên cứu và phát triển các dẫn xuất mới như deoxoartemisinin là cần thiết để đối phó với tình trạng này.

2.2. Độc tính và tác dụng phụ của deoxoartemisinin

Mặc dù deoxoartemisinin được cho là an toàn hơn so với nhiều loại thuốc khác, nhưng vẫn cần phải theo dõi các tác dụng phụ có thể xảy ra. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hợp chất này có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn, đặc biệt là khi sử dụng ở liều cao. Việc đánh giá độc tính và tác dụng phụ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng của deoxoartemisinin

Để đánh giá tác dụng chống sốt rét của deoxoartemisinin, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các thử nghiệm in vivo trên động vật thí nghiệm, đặc biệt là chuột nhắt trắng, đã cho thấy hiệu quả rõ rệt của hợp chất này trong việc tiêu diệt ký sinh trùng. Các nghiên cứu này không chỉ giúp xác định liều lượng tối ưu mà còn đánh giá tính an toàn của deoxoartemisinin.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và lựa chọn liều lượng

Thiết kế thí nghiệm là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tác dụng của deoxoartemisinin. Các nhà nghiên cứu đã lựa chọn liều lượng phù hợp để đảm bảo hiệu quả điều trị mà không gây ra độc tính. Việc xác định liều lượng tối ưu giúp tối đa hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

3.2. Phân tích kết quả và đánh giá hiệu quả

Sau khi thực hiện thí nghiệm, các kết quả được phân tích để đánh giá hiệu quả của deoxoartemisinin. Các chỉ số như mật độ ký sinh trùng, triệu chứng lâm sàng và các chỉ số sinh hóa được theo dõi để xác định mức độ hiệu quả của hợp chất này trong điều trị sốt rét.

IV. Ứng dụng thực tiễn của deoxoartemisinin trong điều trị sốt rét

Deoxoartemisinin không chỉ là một hợp chất tiềm năng trong nghiên cứu mà còn có thể được ứng dụng rộng rãi trong điều trị sốt rét. Với hiệu quả cao và khả năng kháng thuốc thấp, hợp chất này có thể trở thành một lựa chọn điều trị quan trọng trong tương lai. Việc phát triển các sản phẩm thuốc từ deoxoartemisinin sẽ giúp cải thiện tình hình điều trị sốt rét, đặc biệt ở những khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao.

4.1. Triển vọng phát triển thuốc từ deoxoartemisinin

Triển vọng phát triển thuốc từ deoxoartemisinin rất khả quan. Nghiên cứu hiện tại cho thấy hợp chất này có thể được phát triển thành các sản phẩm thuốc mới, giúp nâng cao hiệu quả điều trị sốt rét. Việc nghiên cứu thêm về cơ chế tác dụng và tính an toàn sẽ là bước quan trọng trong quá trình phát triển này.

4.2. Tác động đến chiến lược phòng chống sốt rét toàn cầu

Sự xuất hiện của deoxoartemisinin có thể tạo ra một bước ngoặt trong chiến lược phòng chống sốt rét toàn cầu. Với khả năng kháng thuốc thấp và hiệu quả cao, hợp chất này có thể giúp giảm tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét, đặc biệt ở những khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao. Việc áp dụng hợp chất này trong điều trị sẽ góp phần vào nỗ lực xóa sổ sốt rét trên toàn cầu.

V. Kết luận và tương lai của deoxoartemisinin trong điều trị sốt rét

Tổng kết lại, deoxoartemisinin là một hợp chất hứa hẹn trong việc điều trị sốt rét. Với cơ chế tác dụng hiệu quả và khả năng kháng thuốc thấp, hợp chất này có thể trở thành một lựa chọn điều trị quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để đánh giá tính an toàn và hiệu quả lâu dài của nó. Việc phát triển các sản phẩm thuốc từ deoxoartemisinin sẽ là một bước tiến lớn trong cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo về deoxoartemisinin là rất cần thiết để xác định rõ hơn về hiệu quả và tính an toàn của hợp chất này. Các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn sẽ giúp cung cấp thêm bằng chứng về khả năng điều trị của nó.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị sốt rét

Hướng đi mới trong điều trị sốt rét có thể được mở ra nhờ vào deoxoartemisinin. Việc phát triển các phác đồ điều trị kết hợp với hợp chất này có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc, từ đó góp phần vào nỗ lực xóa sổ sốt rét toàn cầu.

16/08/2025
Nghiên cứu tác dụng chống sốt rét và độc tính của hợp chất 10β 2β hydroxy 3 imidazol propyl deoxoartemisinin

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể bùng phát thành dịch, căn nguyên do kí sinh trùng (KST) Plasmodium. Trong số các loài Plasmodium gây bệnh ở ngƣời thì Plasmodium falciparum là loài nguy hiểm hơn cả, là nguyên nhân gây ra trên 90% trƣờng hợp tử vong do sốt rét trên thế giới. Mặc dù cho đến nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các nƣớc đã có nhiều biện pháp để ứng phó, nhƣng sốt rét vẫn là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật, tử vong và trở thành gánh nặng sức khỏe toàn cầu. Phụ nữ mang thai, trẻ em và những ngƣời bị suy giảm miễn dịch là đối tƣợng có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao nhất.

Theo báo cáo Sốt rét Thế giới (WHO, 2020) ƣớc tính vào năm 2019 có khoảng 229 triệu trƣờng hợp mắc sốt rét trên toàn cầu, gây ra 409 nghìn ca tử vong, bao gồm nhiều trẻ em dƣới 5 tuổi, lƣu hành ở 87 quốc gia và ảnh hƣởng đến khoảng 40% dân số thế giới [84]. Tại Việt Nam, Chƣơng trình Phòng chống sốt rét Quốc gia đƣợc triển khai từ khá sớm, đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể, làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét. Theo báo cáo kết quả phòng chống và loại trừ sốt rét giai đoạn 2016-2020: Đến năm 2020, số ngƣời nhiễm kí sinh trùng sốt rét giảm 65,8% so với năm 2016; Số kí sinh trùng sốt rét trung bình/năm giai đoạn 2016 - 2020 giảm 75% so với giai đoạn 2011-2015; Số tử vong do mắc sốt rét trong 5 năm là 11 trƣờng hợp, đặc biệt năm 2019 không có bệnh nhân sốt rét tử vong;… [5]. Tuy nhiên, bệnh vẫn còn diễn biến rất phức tạp, với sự di biến động dân cƣ lớn, mạng lƣới y tế chƣa ổn định, hạn chế về nguồn lực và sự gia tăng tình trạng kháng thuốc [28].

Thách thức lớn nhất trong việc kiểm soát sốt rét là tình trạng kháng thuốc ngày càng lan rộng ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt tại các quốc gia trong khu vực Tiểu vùng Sông Mê-kông (GMS), trong đó có Việt Nam. Nhiều thuốc sốt rét đã phải đƣa ra khỏi danh sách thuốc thiết yếu do bị KST kháng nhƣ sulfadoxin – pyrimethamin, dẫn xuất artemisinin không còn đƣợc dùng đơn thuần bằng đƣờng uống. Trong số các loài KST kháng sốt rét, P. falciparum là loại KST sốt rét kháng thuốc có tần suất cao nhất và đa kháng, là nguyên nhân đe dọa đến chiến lƣợc phòng và chống sốt rét tại Việt Nam và thế giới.

Đáng lo ngại, P. 1 falciparum đã ghi nhận kháng chloroquin và hầu hết các thuốc sốt rét hiện có, đặc biệt nghiêm trọng là kháng artemisinin (ART) và các dẫn xuất – nhóm thuốc có hiệu lực điều trị KST sốt rét nhanh và hiệu quả trong những thập kỷ trƣớc [56]. Do vậy, vấn đề cấp bách đã đƣợc WHO khuyến cáo là sử dụng phối hợp thuốc trong điều trị hoặc tăng cƣờng nghiên cứu phát triển thuốc mới có khả năng chống kháng thuốc [21],[28]. Hiện nay hƣớng nghiên cứu tổng hợp dẫn xuất ART đã cho thấy những dấu hiệu khá tích cực.

Đi từ dihydroartemisinin (DHA) và sản phẩm trung gian 10β- allyldeoxoartemisinin, các nhà khoa học của Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên đã tổng hợp và tinh chế thành công 5 dẫn xuất của artemisinin. Trong đó hợp chất 10β-[(2'β-hydroxy-3'-imidazol) propyl] deoxoartemisinin (hợp chất 32) là chất có tiềm năng hơn cả, đã đƣợc chứng minh hiệu lực in vitro tƣơng đƣơng ART [22], có hiệu quả điều trị cao trên chuột nhắt trắng nhiễm Plasmodium berghei chủng kháng chloroquin [23] và không có độc tính cấp đƣờng uống [22],[23]. Vì vậy, để cung cấp thêm những bằng chứng khoa học về tính an toàn, hiệu quả và có những cơ sở đánh giá tiền lâm sàng nhằm phát triển thuốc mới từ hợp chất (32) trong điều trị sốt rét, đề tài: “Nghiên cứu tác dụng chống sốt rét và độc tính của hợp chất 10β - [(2'β- hydroxy-3'-imidazol) propyl] deoxoartemisinin” đƣợc tiến hành với các mục tiêu chính sau đây: 1. Đánh giá tác dụng chống sốt rét in vivo của hợp chất 10β - [(2'β- hydroxy- 3'-imidazol) propyl] deoxoartemisinin.

Đánh giá độc tính bán trƣờng diễn của hợp chất 10β - [(2'β- hydroxy-3'- imidazol) propyl] deoxoartemisinin trên thỏ thực nghiệm. Đánh giá ảnh hƣởng của hợp chất 10β - [(2'β- hydroxy-3'-imidazol) propyl] deoxoartemisinin đến quá trình sinh sản và phát triển của chuột nhắt trắng thế hệ cha mẹ (P), thế hệ 1 (F1), thế hệ 2 (F2) và thế hệ 3 (F3). TỔNG QUAN BỆNH SỐT RÉT 1. Vài nét khái quát về bệnh sốt rét Khái niệm: Sốt rét (SR) là bệnh truyền nhiễm do kí sinh trùng Plasmodium gây nên.

Bệnh lây theo đƣờng máu, chủ yếu do muỗi Anopheles truyền [28]. Tác nhận gây bệnh: Năm loài đã biết của chi Plasmodium gây bệnh sốt rét ở ngƣời là Plasmodium falciparum (P. falciparum), Plasmodium vivax (P. vivax), Plasmodium malariae (P.

malariae), Plasmodium ovale (P. ovale) và Plasmodium knowlesi (P. Trong số này, P. falciparum là loài ký sinh độc nhất, gây số ca nhiễm và tử vong cao.

Năm 2018, theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới WHO, P. falciparum ƣớc tính chiếm 99,7% các trƣờng hợp sốt rét ở Khu vực châu Phi; 50% trƣờng hợp mắc ở Khu vực Đông Nam Á; 71% trƣờng hợp ở Đông Địa Trung Hải và 65% ở Tây Thái Bình Dƣơng. vivax là kí sinh trùng chủ yếu ở khu vực châu Mỹ, chiếm 75% các trƣờng hợp sốt rét [89]. Các thể lâm sàng, triệu chứng: Lâm sàng bệnh SR thƣờng đƣợc phân ra làm hai loại là SR thể thông thƣờng (SR chƣa biến chứng) và SR ác tính (SR biến chứng) [2],[28].

Đồng thời còn có một số thể SR đặc biệt khác: SR ở trẻ em, SR ở phụ nữ có thai, SR bẩm sinh, SR do truyền máu, SR mạn tính, SR nội tạng tiến triển [9]. Bệnh thƣờng biểu hiện bằng những cơn sốt rét điển hình với ba triệu chứng: rét run, sốt, vã mồ hôi. Bệnh tiến triển có chu kỳ và có hạn định nếu không bị tái nhiễm. Kí sinh trùng sốt rét gây miễn dịch đặc hiệu nhƣng không bền vững.

Bệnh lƣu hành địa phƣơng, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch, hiện chƣa có vắc xin phòng bệnh, có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống đƣợc [2]. Phụ nữ mang thai, trẻ em, khách du lịch đến các vùng lƣu hành dịch bệnh và những ngƣời đồng nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh và tử vong cao nhất sau nhiễm sốt rét [69]. Ở những vùng ít lây truyền, phụ nữ có thai đều có nguy cơ mắc các hội chứng nặng nhƣ sốt rét thể não, tỉ lệ tử vong ở mẹ và thai nhi cao. Ở những vùng có khả năng lây truyền cao, nơi phụ nữ dễ mắc sốt rét nhất trong lần mang thai đầu tiên, các hội chứng nặng nhƣ sốt rét thể não không phổ biến, nhƣng thiếu máu trầm trọng ở mẹ và trẻ sơ sinh nhẹ cân là những di chứng thƣờng xuyên và gây tử vong 3 nhiều nhất [39].

Theo báo cáo Sốt rét của WHO năm 2020, 33 quốc gia có mức độ lây truyền SR từ trung bình đến cao ở châu Phi là khu vực có gánh nặng sốt rét ở phụ nữ mang thai lớn nhất, với ƣớc tính khoảng 33 triệu ca mắc dẫn đến 822 nghìn trẻ em bị nhẹ cân vào năm 2019 [84]. Thuốc điều trị sốt rét - Phân loại theo nguồn gốc [28]: + Nhóm thuốc có nguồn gốc thực vật: quinin, artemisinin. + Nhóm thuốc tổng hợp: chloroquin, amodiaquin, mefloquin, halofantrin, sulfadoxin, pyrimethamin, primaquin. + Nhóm thuốc phối hợp: sulfadoxin + pyrimethamin, pyrimethamin + dapson; atovaquon + proguanil; các phối hợp thuốc điều trị sốt rét có dẫn chất artemisinin (ACT) nhƣ dihydroartemisinin + piperaquin (DHA-PPQ), artemether + lumefantrin, artesunat + amodiaquin, artesunat + mefloquin.

- Phân loại theo tác dụng [28]: + Thuốc diệt thể vô tính: quinin, chloroquin, artesunat, pyrimethamin. + Thuốc diệt thể hữu tính, thể ngủ: primaquin - Dựa vào cấu tạo hóa học, các thuốc điều trị sốt rét chủ yếu đƣợc phân thành ba nhóm dẫn xuất: quinolin, antifolat và artemisinin (bảng 1. Phân loại thuốc chống sốt rét dựa vào cấu tạo hóa học Nhóm thuốc Phân nhóm Thuốc cụ thể Cinchona alkaloid Quinin, quinidin Chloroquin, Amodiaquin, 4-aminoquinolin piperaquin 8-aminoquinolin Primaquin, Tafenoquin Dẫn xuất quinolin 4-quinolinmetanol Mefloquin Arylamino alcohol Lumefantrin, Halofantrin Dẫn xuất Pyronaridin benzonaphthyridin Sesquiterpen lacton Artemether, artesunat, Dẫn xuất artemisinin endoperoxit Dihyroartemisinin Napthoquinon Atovaquon Diaminopyrimidin Pyrimethamin Dẫn xuất antifolat Sulfonamid Sulfadoxin 4 Biguanid Proguanila 1. Thực trạng bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1.

Trên thế giới Bệnh sốt rét có mặt, lƣu hành rộng khắp ở vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo Báo cáo sốt rét thế giới (WHO, 2020), năm 2019, ƣớc tính thế giới có khoảng 229 triệu ca sốt rét, giảm 238 triệu ca so với năm 2000 [84]. Bệnh SR lan truyền ở châu Phi cận Sahara đến các khu vực riêng biệt không đồng đều nhƣ Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Thái Bình Dƣơng, Đông Địa Trung Hải và Nam Mỹ. Hầu hết các ca sốt rét năm 2019 đến từ khu vực châu Phi chiếm 94%, tiếp theo là khu vực Đông Nam Á với 3% các trƣờng hợp và khu vực Đông Địa Trung Hải với 2,1%.

Năm quốc gia chiếm hơn một nửa số ca nhiễm sốt rét trên thế giới năm 2019 bao gồm: Nigeria – Tây Phi (27%), Cộng hòa Dân chủ Congo – Trung Phi (12%), Uganda – Trung Phi (5%), Mozambique – Nam Phi (4%) và Niger – Tây Phi (3%). Trong đó, tỷ lệ tử vong do sốt rét ở trẻ em dƣới 5 tuổi giảm từ 84% (năm 2000) xuống còn 67% (năm 2019), nhƣng vẫn ở mức khá cao. Khu vực châu Phi đã đạt đƣợc mức giảm ấn tƣợng về số ca tử vong do sốt rét hàng năm - từ 680 nghìn vào năm 2000 xuống 384 nghìn vào năm 2019. [84] Các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á đã thực hiện tiến bộ đặc biệt mạnh, với tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do sốt rét từ năm 2000-2019 giảm lần lƣợt là 73% và 74%.

Ấn Độ đóng góp vào sự sụt giảm lớn nhất về số ca trong toàn khu vực - từ khoảng 20 triệu ca năm 2000 xuống còn khoảng 6 triệu ca năm 2019. Sáu quốc gia thuộc Tiểu vùng Sông Mê-kông Mở rộng (GMS): Campuchia, Trung Quốc (tỉnh Vân Nam), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam - tiếp tục đạt đƣợc những thành tựu lớn, với mức giảm đáng kinh ngạc 97% các trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét do P. falciparum kể từ năm 2000 - một mục tiêu chính trong bối cảnh mối đe dọa liên tục do kháng thuốc sốt rét gây ra. 5 Đồng thời, số ca sốt rét cũng giảm 90% ở khu vực này.

Campuchia (58%) và Myanmar (31%) chiếm hầu hết các trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét trong GMS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ