Chương 1: Giới thiệu luận văn Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Mô hình nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận.7 Ý nghĩa luận văn: - Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần củng cố cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam. - Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam.
Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị về chính sách để đạt hiệu quả cao nhất trong việc thu hút vốn đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2.1 Tránh thuế: 2.1 Khái niệm Tránh thuế là thuật ngữ ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Các định nghĩa về tránh thuế đã được công bố bởi nhiều nhà nghiên cứu như Dyremg, Hanlon và Maydew (2008) và Hanlon và Heitzman (2010), Salihu, Sheikh Obid và Annuar (2013); Salihu (2014). Theo đó, tránh thuế là việc sử dụng các công cụ pháp lý để trả số thuế ít nhất có thể.
Điều này cần được phân biệt với trốn thuế, đó là việc sử dụng các phương pháp bất hợp pháp để tránh việc chi trả các khoản thuế cho chính phủ. Việc đo lường yếu tố tránh thuế này đã được thực hiện bởi các nghiên cứu của Grantley Taylor, Grant Richardso (2012), Hairul Azlan Annuar, Ibrahim Aramide Salihu, Siti Normala Sheikh Obid (2014), David A. Theo đó, một số biện pháp đo lường việc tránh thuế TNDN có thể kể đến phương pháp sử dụng thuế suất hiệu dụng ETR (được hiểu là tỷ lệ thuế TNDN chia cho thu nhập chịu thuế hoặc lợi nhuận). Theo đó, ETR bao gồm ETR kế toán, ETR tiền mặt dài hạn.
Ngoài ra, một số nghiên cứu còn sử dụng biện pháp xem xét lỗ hổng thuế (book tax gap).2 Lợi ích và chi phí thực tiễn của việc tránh thuế Lợi ích rõ ràng nhất của việc tránh thuế là tiền tiết kiệm từ các khoản thuế tránh được. Việc tiết kiệm tiền mặt dẫn đến dòng tiền gia tăng tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội đầu tư hơn nữa và dẫn đến làm tăng giá trị của công ty. Sự giàu có của các cổ đông cũng tăng lên vì họ nhận được cổ tức nhiều hơn và giá trị cổ phiếu tăng lên. Các nhà quản lý cũng được hưởng lợi từ việc này do họ được trả thù lao cho việc quản lý thuế hiệu quả.
Trên thực tế, thù lao của người quản lý là yếu tố quyết định hành vi tránh thuế trong hầu hết các trường hợp. Như vậy, một số nghiên cứu đã ghi lại mối liên hệ giữa tránh thuế và các ưu đãi của nhà quản lý từ các quan điểm khác nhau. Ví dụ, Phillips (2003) nhận thấy rằng thù TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lao của các nhà quản lý dựa trên kết quả lợi nhuận sau thuế có liên quan đến thuế suất hiệu dụng thấp hơn (ETR). Tương tự, Slemrod (2004) đã phát triển một mô hình cho mối liên hệ giữa tránh thuế và thù lao cho người quản lý.
Mô hình tương tự cũng đã được thực hiện bởi Desai và Dharmapala (2006), dựa trên mối liên hệ giữa các ưu đãi về vốn chủ sở hữu và tránh thuế. Cả hai mô hình trên đều dẫn đến kết quả có một mối liên hệ giữa tránh thuế và thù lao của người quản lý. Sử dụng cách tiếp cận khác, Frank, Lynch và Rego (2009) đã tìm thấy một mối quan hệ giữa quản lý thu nhập và tránh thuế. Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý đang được trả thù lao cho việc lập kế hoạch thuế hiệu quả.
Nghiên cứu của Rego và Wilson (2010) đã ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa việc lập kế hoạch thuế và lựa chọn của các nhà quản lý. Các nghiên cứu này đều cho thấy rằng các nhà quản lý được trả thù lao xứng đáng cho việc hoạch định thuế dựa trên việc tiết kiệm thuế từ các khoản tránh thuế và các chủ sở hữu doanh nghiệp thường rất hài lòng về việc này. Tuy nhiên, lập luận cho thấy rằng bản chất của các khoản thù lao trong hợp đồng lao động giữa các chủ sở hữu và các nhà quản lý chuyên nghiệp dường như không đầy đủ. Điều này là do các chủ sở hữu thiếu hiểu biết đầy đủ về hoạt động lập kế hoạch thuế của các nhà quản lý có thể gây bất lợi cho sự tồn tại của công ty (Croker và Slemrod, 2005).
Ngoài ra, Chen và Chu (2005) lập luận rằng việc tránh thuế dẫn đến mất kiểm soát nội bộ trong trường hợp các nhà quản lý hành động ích kỷ vì bản chất không đầy đủ của hợp đồng lao động. Do đó, có thể nói rằng mặc dù được trả thù lao xứng đáng cho việc quản lý thuế hiệu quả, các nhà quản lý vẫn có thể theo đuổi lợi ích cá nhân của họ thông qua lập kế hoạch thuế. Việc tránh thuế thuế TNDN gây ra mộ số hệ quả nghiêm trọng. Ngoài chi phí đại diện của tránh thuế và mất kiểm soát nội bộ nêu trên, vẫn còn tồn tại các chi phí phi thuế khác liên quan đến hoạt động tránh thuế của công ty (Scholes, Wolfson, Erickson, Maydew & Shevlin, 2005).
Ngoài chi phí cơ hội được sử dụng để quản lý thuế, một trong những chi phí phi thuế quan trọng nhất là hình phạt có thể được áp dụng bởi cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 quan thuế (Chen và cộng sự, 2010). Điều này có thể phát sinh sau khi các hoạt động tránh của công ty được phát hiện thông qua việc thanh tra. Các khoản thanh toán thuế bổ sung và tiền phạt do cơ quan thuế áp đặt có thể ảnh hưởng đến dòng tiền có sẵn và danh tiếng của công ty. Rủi ro danh tiếng về tránh thuế có tác động kép đến sự tồn tại của công ty.
Đầu tiên, tính hợp pháp trong công ty đang được công chúng đặt câu hỏi. Công chúng nhìn nhận một công ty hợp pháp và có trách nhiệm xã hội bằng cách đóng góp vào sự phát triển kinh tế của xã hội nơi nó hoạt động (Christensen và Murphy, 2004). Do đó, bất kỳ hành vi tránh thuế nào cũng có thể đe dọa sự tồn tại của công ty (Preuss, 2010). Tuy nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi công chúng trở nên nhận thức được sự vô trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp này, thông qua các phương tiện truyền thông khi các hoạt động tránh thuế của doanh nghiệp được công bố.
Chi phí và lợi ích của việc tránh thuế cho các doanh nghiệp có thể khác nhau tùy thuộc vào bản chất của cơ cấu sở hữu. Điều này được giải thích trong các lập luận của Shackelford và Shevlin (2001). Họ cho rằng cơ cấu sở hữu là một yếu tố quyết định tiềm ẩn của việc tránh thuế. Lý do khác là việc quyền sở hữu doanh nghiệp là “vấn đề cốt lõi trong quản trị doanh nghiệp” (Hua & Zin, 2007) và xác định bản chất của các vấn đề phát sinh trong môi trường doanh nghiệp.
Tóm lại, tuy tránh thuế mang lại lợi ích cho công ty và cổ đông dưới hình thức tiết kiệm thuế, các chi phí phi thuế tiềm năng phát sinh liên quan đến việc tránh thuế cũng có thể lớn tùy thuộc vào cấu trúc quyền sở hữu và kiểm soát của công ty. Các chi phí phi thuế này bao gồm mất hiệu quả trong kiểm soát nội bộ, chi phí đại diện, hình phạt tiềm năng, giảm giá trị tiềm năng của doanh nghiệp và thiệt hại về tính hợp pháp của tổ chức. Chi trả thuế là một trong những phương tiện quan trọng mà một công ty hoàn thành trách nhiệm công dân của mình đối với xã hội nơi nó hoạt động (Preuss, 2010; Williams, 2007a). Điều này xuất phát từ hợp đồng xã hội rõ ràng giữa công ty và xã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hội nói chung.
Do đó, các nhà nghiên cứu thuế gần đây đã lập luận cho việc xem xét các vấn đề liên quan đến thuế trong các chiến lược trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Avi-Yonah, 2008; Desai và Dharmapala, 2006; Freedman, 2003). Trong thực tế, Christensen và Murphy (2004) lập luận rằng bất kỳ hành động tránh thuế nào cũng dẫn đến vô trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, Huseynov, Klamm (2012) và Lanis và Richardson (2011, 2012) đề xuất xem xét cơ quan thuế là một bên liên quan của công ty. Họ cho rằng cơ quan thuế hành động thay mặt chính phủ, đại diện cho công chúng.
Hơn nữa, việc thu thuế của cơ quan thuế có nghĩa là tăng phúc lợi của cộng đồng nói chung và không vì lợi ích duy nhất của cơ quan thuế. Landolf (2006) thì mô tả việc tránh thuế “là tội ác chống lại quốc gia” thay vì chỉ chống lại các cơ quan thuế. Trong điều hành doanh nghiệp, thành viên hội đồng quản trị và người điều hành công ty là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Nếu mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích của cổ đông, nghĩa vụ của các thành viên hội đồng quản trị sẽ là tối đa hóa lợi ích của cổ đông trong đó có nghĩa vụ nâng cao giá trị cổ phiếu của công ty.
Ngược lại, nếu mục đích của công ty là mang lại lợi ích cho tất cả các bên có liên quan thì khi đưa ra các quyết định, doanh nghiệp cần quan tâm đến lợi ích của các bên có liên quan, bao gồm cả việc chi trả thuế TNDN cho NSNN.2 Lý thuyết về các yếu tố tác động đến tránh thuế TNDN Có nhiều yếu tố tác động đến tránh thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong thực tế, ngoài các yếu tố trực tiếp tác động đến việc tránh thuế thu nhập doanh nghiệp như lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, cường độ vốn (liên quan đến chi phí khấu hao nhanh căn cứ vào vòng đời tài sản), theo một số nghiên cứu của Ibrahim Aramide Salihu, Hairul Azlan Annuar, Siti Normala Sheikh Obid (2015) hoặc Grantley Taylor, Grant Richardson, tồn tại các yếu tố quan trọng khác tác động đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm tỷ lệ sở hữu nước ngoài, yếu tố chính trị (tỷ lệ sở hữu nhà nước) và đòn bẩy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Các học thuyết liên quan về tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp và tránh thuế TNDN. Các học thuyết chủ yếu đề cập đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory) và Học thuyết giá trị các bên liên quan (Stakeholder value theory).