ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, sàn phẳng bê tông cốt thép (BTCT) được dùng nhiều trong các hệ kết cấu. Sàn đặt trực tiếp trên cột nên giảm được chiều cao tầng, và tăng không gian sử dụng. Tuy nhiên, do sàn được đặt trực tiếp lên cột, nên tại vị trí này ứng suất tập trung lớn (ứng suất cục bộ) gây nên hiện tượng chọc thủng sàn; ngăn cản sự làm việc chung giữa sàn và cột dẫn đến khả năng chịu lực của kết cấu giảm mạnh. Thực tế cho thấy kiểu phá hoại này rất nguy hiểm vì diễn ra trong thời gian rất ngắn và rất khó cảnh báo.
Ngoài ra, tải trọng gây chọc thủng thường nhỏ hơn nhiều so với tải trọng gây phá hoại do uốn của sàn. Khả năng kháng chọc thủng của liên kết sàn-cột BTCT trong các nghiên cứu thực nghiệm phụ thuộc vào một vài yếu tố như chiều dày sàn, cường độ bê tông sàn, sơ đồ thí nghiệm (liên kết biên là ngàm hoặc gối tựa), hình dạng và kích thước tiết diện cột, hàm lượng cốt dọc và kích thước hình học sàn. Đối với yếu tố hàm lượng cốt dọc, để đảm bảo kiểu phá hoại chính xác là chọc thủng, đa số nghiên cứu đã được thực hiện trên các mẫu có hàm lượng cốt thép dọc chịu kéo khá lớn (lớn hơn 1%). Kinnunen and Nylander (1960) thí nghiệm trên các mẫu với hàm lượng từ 0.5%, Krüger và cộng sự (1998) thí nghiệm sàn với hàm lượng 1% và 1.3%, Lips và cộng sự (2012) thí nghiệm với hàm lượng từ 1.
Tuy nhiên, trong thực tế hàm lượng cốt thép dọc chịu kéo của sàn thường thấp hơn nhiều. Gần đây, một vài nghiên cứu như của Guandalini và cộng sự (2009) đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng cốt dọc chịu kéo đến ứng xử và khả năng kháng chọc thủng của sàn, trong đó có xét đến trường hợp mẫu thí nghiệm có hàm lượng cốt dọc thấp. Trước thực trạng của dữ liệu thực nghiệm về vấn đề vừa nêu không được đầy đủ, việc tính toán khả năng kháng chọc thủng của sàn phần lớn vẫn chỉ dựa vào thành phần bê tông (ACI 318, 2008; TCXDVN 356; 2005). Vấn đề xác định một cách định lượng ảnh hưởng của hàm lượng cốt dọc 2 đến khả năng kháng chọc thủng của sàn, đặc biệt trong trường hợp sàn có hàm lượng cốt dọc thực tế, vẫn chưa được rõ ràng.
Kích thước hình học của sàn hay còn gọi tỷ số nhịp trên chiều dày làm việc của sàn (L/d) là tham số có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng kháng chọc thủng của mẫu thí nghiệm (Bazant và Cao, 1997; Birkle và Dilger, 2008; Muttoni và cộng sự. Thật vậy, các mẫu có kích thước khác nhau, có ứng xử chọc thủng khác nhau. Đối với các mẫu có tỉ số L/d lớn (sàn mỏng), ứng xử uốn của là xu thế chủ đạo trong sàn. Tuy nhiên, với các mẫu có tỉ số L/d nhỏ (sàn dày), ứng xử cắt lại chi phối sự làm việc của sàn (Nguyen-Minh và cộng sự, 2012).
Việc bỏ qua ảnh hưởng của yếu tố tỉ số L/d giúp cho việc thiết kế được đơn giản hơn như trong các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành (ACI 318, 2008; EC 2, 2004; TCXDVN 356, 2005), nhưng lại không thể hiện được bản chất vật lý của vấn đề như vừa nêu. Ngoài ra, việc chọn kích thước cho mẫu thí nghiệm choc thủng hiện nay là gần đúng dựa trên việc mô phỏng vùng liên kết sàn cột. Theo đó, kích thước sàn là khoảng cách giữa hai điểm uốn và xét 2 phương như nhau để đơn giản hóa. Điều này dẫn đến mẫu sàn thí nghiệm có dạng vuông hoặc tròn.
Tuy vậy, ứng xử của vùng liên kết sàn-cột trong thực tế theo hai phương là không giống nhau và không đối xứng, dẫn đến khoảng cách giữa 2 điểm uốn theo từng phương không bằng nhau, từ đó, làm cho kích thước sàn thí nghiệm không còn là hình vuông hay tròn nữa. Những vấn đề vừa nêu trên cho thấy rất cần có thêm các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tỉ số L/d cũng như hình dạng của mẫu thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ hơn về ảnh hưởng của chúng đến khả năng kháng chọc thủng của sàn cũng như giúp cho việc dự đoán khả năng kháng chọc thủng của sàn được chính xác và kinh tế hơn. Đề tài tiến hành khảo sát thực nghiệm và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tỉ số nhịp trên chiều dày làm việc của sàn (L/d), hình dạng sàn (sàn vuông và chữ nhật), và hàm lượng cốt thép chịu kéo đến ứng xử và khả năng kháng chọc thủng của liên kết sàn-cột BTCT. Chương trình thực nghiệm được tiến hành trên 12 mẫu liên kết sàn cột có tỉ số L/d thay đổi từ 8 đến 16, hàm lượng cốt dọc chịu kéo từ 0.2% và có 3 hình dạng sàn thay đổi (L1/L2 thay đổi từ 1 đến 2).
Kết quả thực nghiệm thu được đề tài được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng cả các yếu tố vừa nêu đến ứng xử và khả năng kháng chọc thủng của liên kết sàn-cột BTCT. Ngoài ra, các kết quả này còn được sử dụng để kiểm chứng lại các công thức tính hiện có của một số tác giả (Aurelio Muttoni (2008), và Nguyen Minh Long và cộng sự (2012)) và trong một số tiêu chuẩn tính toán hiện có (ACI 318-08, Eurocode 2-2004, CEB-FIP MC 2010, và TCVN356-2005). Dựa trên kết quả kiểm chứng, một số đề nghị cũng được đưa ra nhằm giúp cho các công thức dự đoán khả năng kháng chọc thủng của liên kết sàn cột BTCT được đầy đủ và chính xác hơn.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của kích thước sàn và hàm lượng cốt dọc đến ứng xử và khả năng kháng chọc thủng của sàn phẳng BTCT Bazant và Cao (1987) nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của yếu tố kích thước đến ứng xử chọc thủng của sàn. Thí nghiệm được thực hiện trên 9 mẫu sàn tròn.
Các sàn được chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 3 mẫu có kích thước khác nhau (Hình 2.1: Kích thước và hình dạng mẫu sàn Kết quả cho thấy kiểu phá hoại chọc thủng của sàn không có cốt đai rất giòn. Ứng suất gây chọc thủng của sàn có kích thước lớn nhỏ hơn so với sàn có kích thước nhỏ. Ứng xử chọc thủng của sàn mỏng gần như dẻo, và ứng xử chọc thủng của sàn dày gần như đàn hồi tuyến tính. 5 Lovrovich và McLean (1990) khảo sát ứng xử chọc thủng của sàn có tỉ số nhịp – chiều dày sàn L/d thay đổi.
Tổng cộng 10 mẫu sàn tròn được thí nghiệm, trong đó 5 mẫu không có cốt chịu cắt và 5 mẫu có cốt chịu cắt. Sàn tròn có đường kính thay đổi. Chiều dày sàn được giữ không đổi trong khi đường kính sàn được thay đổi nhằm tạo ra tỉ số L/d khác nhau. Kết quả cho thấy, khả năng kháng chọc thủng của sàn tăng đáng kể khi tỉ số L/d < 6 do ảnh hưởng của lực nén trong mặt phẳng gây ra bởi phản lực tại gối.
Birkle và Dilger (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dày sàn đến khả năng kháng chọc thủng của sàn. Thí nghiệm được thực hiện trên 9 mẫu sàn, chiều dày sàn thay đổi từ 160 đến 300 mm. Kết quả cho thấy, những sàn không có cốt thép chịu cắt, dày hơn 260mm có hệ số an toàn không cao khi thiết kế theo ACI 318 (2005). Muttoni và cộng sự (2009) khảo sát thực nghiệm ứng xử chọc thủng của sàn với hàm lượng cốt thép thay đổi từ 0.
Thí nghiệm được tiến hành trên 11 mẫu liên kết sàn – cột, không bố trí cốt chịu cắt. Cột có dạng hình vuông. Kích thước của mẫu và cốt liệu được thay đổi để khảo sát ảnh hưởng của chúng. Kích thước mẫu thay đổi như trong Hình 2.
6 mẫu có kích thước chuẩn với chiều dày 0.25 m; 1 mẫu có kích thước gấp đôi, dày 0.5m; và 4 mẫu có kích thước bằng một nửa, dày 0. Đối với kích thước cốt liệu, kích thước lớn nhất là 16mm cho tất cả các mẫu sàn, ngoại trừ mẫu PG-4 có kích thước cốt liệu là 4mm.2: Hình dạng của mẫu thí nghiệm Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng, tất cả các mẫu đều bị phá hoại do chọc thủng với một hình nón xuyên thủng rõ ràng. Đối với sàn có hàm lượng cốt thép lớn hơn, phá hoại xảy ra trong khi một số cốt thép gần cột đã bị chảy dẻo và phần còn lại vẫn ứng xử đàn hồi. Trái lại, đối với các sàn có hàm lượng cốt thép thấp hơn, phá hoại xuyên thủng xảy ra với biến dạng dẻo lớn của cốt thép.
Do ảnh hưởng kích thước, ứng suất chọc thủng giảm khi chiều dày sàn tăng, đồng thời biến dạng giảm. Đối với các sàn có hàm lượng cốt thép chịu kéo thấp, thiết kế theo ACI 318-08 cho kết quả kém an toàn, trong khi EC 2 (2004) cho kết quả tốt hơn. Kết quả cũng cho thấy, chuẩn phá hoại của lý thuyết vết nứt cắt tới hạn có thể được áp dụng cho cả hai loại sàn có và không có biến dạng dẻo đáng kể của cốt thép chịu uốn (có nghĩa là, với hàm lượng cốt thép nhỏ hoặc lớn). Ngoài ra, lý thuyết này cũng tiên đoán được một cách chính xác về khả năng kháng chọc thủng và biến dạng của liên kết sàn-cột BTCT.
7 Lips và cộng sự (2012) khảo sát thực nghiệm khả năng kháng chọc thủng của liên kết sàn-cột có cốt chịu cắt. Nghiên cứu được thực hiện trên 16 mẫu sàn. Tất cả các mẫu sàn có kích thước là 3.0m, hàm lượng cốt thép chịu kéo 1.5% (hàm lượng cốt thép này được chọn để ngăn chặn phá hoại do uốn) và chiều dày sàn thay đổi lần lượt 250mm, 320mm, 400mm. Khoảng cách của cốt thép chịu kéo không đổi cho tất cả các mẫu và bằng 100mm.
Mẫu sàn dày 250 mm dùng thép có đường kính 20mm; mẫu sàn dày 320 dùng cốt thép đường kính là 20 và 26mm; mẫu dày 400mm dùng thép có đường kính 26mm. Cốt thép dọc tại mặt chịu nén không đổi cho tất cả các mẫu với đường kính thanh là 10mm và khoảng cách giữa các thanh là 100mm theo cả hai phương. Đối với cốt thép chịu cắt, dùng hai phương pháp: đinh tán chịu cắt và cốt đai liên tục (Hình 2.3 : Kích thước và các bố trí cốt chịu cắt: (a) đinh tán chịu cắt; (b) cốt đai chịu cắt Kết quả thí nghiệm cho thấy, cốt chịu cắt chưa chảy dẻo khi sàn bị phá hoại. Thực tế này trái với những gì được đề xuất trong hầu hết các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành, chẳng hạn như ACI 318 (2008).