Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Khái quát về đô thị hóa Đô thị hóa là một quá trình vận động kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường một cách phức tạp, là quá trình nâng cao vai trò của thành phố trong việc phát triển xã hội. Quá trình này bao gồm nhiều sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực; trong đó có thể kể đến cơ cấu kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa.
Đô thị hóa được xác định bằng sự kiện tăng dân số và sự phát triển không gian đô thị của thành phố. Từ điển tiếng Việt cũng có định nghĩa tương tự nhưng mạnh hơn vai trò của thành thị đối với phát triển xã hội: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [37]. Đô thị hoá là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa. Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang dạng thành thị [1].
Các định nghĩa trên đã nói lên hai tính chất chung nhất của đô thị hóa là sự tập trung dân số và vai trò phát triển của thành phố. Hai tính chất này là tác nhân và cũng chính là hệ quả của nhiều vấn đề khác nhau như vấn đề nhập cư, áp lực lao động, phân tầng xã hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, vấn đề ô nhiễm, xây dựng hạ tầng, vấn đề nhà ở, vấn đề xã hội, vấn đề văn hóa,… Xét trên phương diện cách sống thì đô thị hóa là sự thay đổi lối sống và thay đổi khung cảnh sống, xét trên quan điểm sinh thái nhân văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái kinh tế nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội đô thị. Còn xét trên bình diện kinh tế thì đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Khái quát chung về quá trình đô thị hóa trên thế giới Lịch sử phát triển đô thị loài người trải qua hai đợt hình thành lớn, đó là sự hình thành các đô thị cổ và sự hình thành đô thị hiện đại.
Đợt hình thành đô thị đầu tiên đã tạo nên những đô thị cổ mà điển hình là các đô thị ở vùng Lưỡng Hà vào khoảng 5000 năm trước đây. Những đô thị này phát triển trong vòng khoảng 1000 năm rồi lụi tàn, tiêu biểu là BaBiLon, ATen, TuRin, Trường An, Bắc Kinh,. Đợt hình thành thứ hai là những đô thị phát sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu khi cuộc cách mạng Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 công nghiệp mang đến nhiều tiến bộ trong kỹ thuật vào thế kỷ XVIII, tiêu biểu là Pari, Tôkyô, Oasinhtơn, Matxcơva, Thượng Hải,. Gần 150 năm trước, trào lưu đô thị hóa bắt đầu ở Phương Tây rồi lan sang Mỹ những cuối thế kỷ XIX và Châu Á là những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX.
Trong thế kỷ XX, các nước phát triển đã chuyển 80 - 90% dân số cư trú ở nông thôn sang khu vực đô thị. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 9,2 tỷ người vào năm 2020. Đến năm 2050, toàn thế giới sẽ có 27 “siêu thành phố” (những thành phố có trên 10 triệu người). Theo nhận định cảnh báo về những mặt trái của quá trình ĐTH quá nhanh ở nhiều nơi của Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quá trình ĐTH trên thế giới góp phần làm tăng trưởng kinh tế cao, song cũng dẫn tới hệ quả là nạn nghèo đói tăng nhanh tại các đô thị và hàng loạt vấn đề môi trường, xã hội khác.
Mức độ đô thị hóa cao ở tất cả các nước kinh tế phát triển. Các nước: Ôxtrâylia, Niudilân, Tây Âu, Bắc Mỹ có mức độ đô thị hóa cao, tỉ lệ dân số đô thị đạt từ 80% trở lên. Còn khu vực Đông và Nam Âu mức độ đô thị hóa còn thấp, trong đó thấp nhất so với các nước kinh tế phát triển là các nước Đông Âu với 63% dân số sống ở khu vực đô thị. Cùng với sự khác biệt về trình độ phát triển về kinh tế là sự khác biệt về mức độ đô thị hóa giữa các nước.
Ở châu Âu có thể nhận ra sự khác biệt về mức độ đô thị hóa dễ dàng, sự thay đổi mức độ đô thị hóa trung bình đến mức độ đô thị hóa cao, ngay trong cùng quốc gia cũng có sự biến đổi theo từng vùng lãnh thổ. Trong số các nước châu Âu có 12 nước có tỉ lệ dân số đô thị hơn 75% là các nước kinh tế phát triển. Các nước đô thị hóa cao trong số các nước đang phát triển là Bỉ (97%), Hà Lan (90%), Anh (89%), Đan Mạch (72%) và CHLB Đức (88%). Như vậy, các nước đô thị hóa cao là các nước ở ven vành đai biển Bắc gồm 4 nước: Bỉ, Hà Lan, CHLB Đức và Đan Mạch, thêm vào đó là Anh, đất nước trải dài trên Đại Tây Dương.
Trong khi một số nước nhỏ ở châu Âu như Monaco có 100% dân số sống ở đô thị, Malta 91% dân số sống ở đô thị, các nước châu Âu khác như Ailen, 94% có mức độ đô thị hóa cao cũng như những đảo ở biển Bắc. 23 nước có tỉ lệ dân số đô thị từ 50% - 75% như Bồ Đào Nha (54%). 3 nước và quần đảo Chenen có tỉ lệ dân số đô thị dưới 50% như Anbani (42%), Bosnia Herzegovinia (43%), Mondova (45%), quần đảo Chenen (31%) là khu vực kinh tế kém phát triển hơn (http://www. Ở các nước kinh tế phát triển sự di dân nông thôn và đô thị làm tăng dân số ở khu vực đô thị đã trở thành nét chung nhất ở các nước này trong những năm cuối thể kỉ 19 đầu thể kỉ 20.
Nhưng cuối thế kỉ 20 thì quá trình đô thị hóa đã mang đặc trưng khác biệt giữa các nước này do quá trình đô thị hóa đã vào giai đoạn kết, gắn với quá trình Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 ngoại ô hóa, nên tỉ lệ dân số đô thị ở một số nước không tăng, thậm chí lại giảm so với những năm trước. Các nước kinh tế phát triển có số dân đô thị nhiều hơn các nước đang phát triển nhưng nó mau chóng bị mất vị trí đó, do sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các nước đang phát triển cộng với sự di dân từ nông thôn vào thành thị. Sự gia tăng dân số nhanh với sự di dân theo hướng nông thôn ra đô thị mạnh mẽ ở các nước đang phát triển làm cho cán cân dân số bị lệch đo từ năm 1975 và tiếp tục thay đổi trong thời gian sau đó. Tỉ lệ dân số đô thị thế giới mỗi năm tăng lên so với dân số thế giới, các thành phố ở các nước đang phát triển dân số tăng lên làm giảm bớt số người cư trú ở nông thôn.
Trong khi đó ở các nước đang phát triển gắn liền với quá trình di dân ào ạt từ nông thôn lên thành phố không kiểm soát được gây thiếu lao động có kĩ thuật ở nông thôn, gây sức ép về việc làm, cơ sở khoa học kĩ thuật và gây ô nhiễm môi trường, gây trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy ta thấy rằng ĐTH trên thế giới nhìn chung mang lại những thành tựu đáng kể nhưng hậu quả của nó lại đặt ra nhiều vấn đề về xã hội, môi trường cần giải quyết. Theo ước tính của liên hợp quốc số lượng dân số đô thị ở các nước châu Á từ năm 1990 đền 2020 sẽ tăng từ 850 đến 2,25 tỉ. Trung bình hàng năm tăng 47 triệu người.
Do đó gây ra những mối nguy hại cho việc phát triển kinh tế, việc xuống cấp môi trường và cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy cần có những biện pháp quy hoạch thích hợp. Trung Quốc là đất nước rộng lớn với diện tích là 9,6 triệu km2, 1,3 tỉ dân, dân số đô thị của Trung Quốc chiếm 37% dân số cả nước. Nhưng trong thời gian gần đây và dự đoán tương lai sắp tới dân số đô thị của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng và có thể đạt đến mức các nước châu Âu hiện nay.
Inđônêxia là cường quốc thứ 4 về dân số với dân số là 221,9 triệu người năm 2005, có tỉ lệ dân số ở đô thị là 42% cao hơn mức trung bình của khu vực nhưng lại thấp hơn mức trung bình của thế giới. Thái Lan là trung tâm giải trí của thế giới các nước Đông Nam Á, tỉ lệ dân số đô thị 31% thấp hơn mức trung bình của thế giới, tập trung chủ yếu vào thủ đô Bangkok. Châu Phi có dân số đô thị chiếm 36%. Đây là châu lục có mức độ đô thị hóa thấp nhất và chậm chạp nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện nay tốc độ đô thị hóa lại tăng nhanh hơn, chủ yếu là sự di dân từ nông thôn ra thành phố. Các nuớc Châu Phi tăng dân số đô thị quá nhanh, phản ánh việc tập trung hóa của chính phủ, của sự giàu có và quyền lực và như thế những gì tốt đẹp nhất của đô thị Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 được xem như biểu tượng của sự phát triển và hiện đại hóa trong nền kinh tế của đất nước họ. Khu vực đô thị hóa mạnh nhất là khu vực Bắc Phi có tới 47% dân số đô thị, Nam Phi 50%, Tây Phi 40%, Trung Phi 35% dân số đô thị, Đông Phi 24% [38]. Khái quát chung về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, lịch sử phát triển đô thị ở Việt Nam có thể khái quát thành 3 thời kỳ và bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định.
* Thời kỳ trước năm 1945 Sự phát triển đô thị của thời kỳ này mang đặc trưng của chế độ phong kiến, thuộc địa. Đô thị nhỏ về quy mô, thấp kém về cơ sở hạ tầng.