Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động mua lại cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết. Chương 2: Ảnh hưởng ngắn hạn của hoạt động mua lại cổ phiếu tại các doanh nghiệp Việt Nam Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhắm quản lí các hoạt động mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luan van 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA LẠI CỔ PHIẾU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 1.1 Tổng quan về hoạt động mua lại cổ phiếu 1.1 Khái niệm về hoạt động mua lại cổ phiếu Hoạt động mua lại cổ phiếu là hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện mua lại cổ phiếu do chính doanh nghiệp đó đã phát hành, cổ phiếu được mua gọi là cổ phiếu quỹ. Theo nghị định 58/2012/NĐ-CP do Thủ tướng chính phủ kí ban hành ngày 20/7/2012 đã định nghĩa cổ phiếu quỹ như sau: “ Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được phát hành bởi công ty cổ phần và được mua lại bởi chính tổ chức phát hành đó”.
Trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ phiếu quỹ có thể được cổ đông biếu hay tặng lại cho doanh nghiệp. Cổ phiếu quỹ được lưu giữ trong kho quỹ để tái phát hành và không được huỷ bỏ nếu chưa xin phép. Các công ty niêm yết thường hiếm khi hay huỷ bỏ các cổ phiếu được mua lại bằng cổ phiếu quỹ bởi vì cổ phiếu quỹ cũng được xem là công cụ tài chính khá linh hoạt để công ty niêm yết điều chỉnh cấu trúc vốn. Cổ phiếu quỹ có thể là cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi và thông thường tại các nước trên thế giới, khái niệm cổ phiếu quỹ chỉ tồn tại ở các công ty niêm yết và giao dịch chính thức trên các Sở giao dịch chứng khoán, các công ty cổ phần thường không được phép tham gia giao dịch cổ phiếu của chính công ty mình.
Tuy nhiên ở một số nước, các công ty cổ phần vẫn được phép mua lại chính cổ phiếu của chính công ty mình trong một số trường hợp đặc biệt như khi cổ đông thực hiện quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phiếu hay khi công ty thực hiện các chứng quyền đã phát hành. Cổ phiếu quỹ không được tính là cổ phiếu đang lưu hành của công ty và sẽ được tái lưu hành khi công ty bán ra. Tổng số cổ phiếu đang lưu hành ( bằng số cổ phiếu đã phát hành trừ đi số cổ phiếu quỹ) sẽ giảm đi khi công ty mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ và tăng lên khi công ty tái phát hành (bán ra) cổ phiếu quỹ. Khi đó số lượng cổ Luan van 7 phiếu lưu hành sẽ thay đổi, ảnh hưởng tới tổng lượng cung trên thị trường và dẫn đến việc ảnh hướng đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Cổ phiếu quỹ không được chia cổ tức và người nắm giữ cổ phiếu này không có những quyền như khi nắm giữ các cổ phiếu khác. Lượng tiền công ty trả cổ tức chỉ để chi trả cho cổ phiếu lưu hành, và không chỉ trả cho cổ phiếu quỹ. Ngoài ra, nhà đầu tư không được hưởng một số quyền khác khi nắm giữ cổ phiếu quỹ như quyền biểu quyết hay phân chia tài sản khi công ty giải thể hoặc thanh lí. Các cổ đông không được phép yêu cầu công ty bán cổ phiếu quỹ và các cổ đông cũng không được hưởng quyền ưu tiên trước khi công ty bán cổ phiếu quỹ.
Các công ty thường tiến hành mua lại cổ phiếu quỹ trong các trường hợp sau đây: Thứ nhất, do cổ phiếu quỹ thuộc quyền sở hữu chung của cổ đông công ty và không được chia cổ tức, do vậy công ty có thể mua lại cổ phiếu quỹ để làm lợi cho các cổ đông hiện hữu, nguyên nhân mua cổ phiếu quỹ trong trường hợp này một phần có thể do công ty chịu sức ép từ tỉ lệ sinh lời trên cổ phiếu từ cổ đông. Thứ hai, khi công ty có tiền nhàn rỗi nhưng lại chưa cần dùng đến trong đầu tư, hoặc có thể do vào thời điểm đó công ty hoạt động kinh doanh tốt, lợi nhuận cao hơn so với việc đầu tư vào các dự án khác. Thứ ba, khi lượng cầu giao dịch trên thị trường yếu đi, làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp sụt giảm đáng kể, doanh nghiệp có thể tiến hành đăng kí mua cổ phiếu quỹ tạp lực cầu cho giao dịch cổ phiếu, đẩy giá cổ phiếu lên tạm thời trong ngắn hạn, tạo thanh khoản tốn cho cổ phiếu giao dịch trên thị trường. Đây cũng là một trong những biện pháp mà các doanh nghiệp khác ở các thị trường chứng khoán khác trên thế giới thường xuyên áp dụng để tạo “sóng” cho cổ phiếu của chính doanh nghiệp của mình Thứ tư, công ty mua cổ phiếu quỹ để thưởng cho nhân viên, đây là biện pháp thường được áp dụng để tạo sự gắn bó cũng như khích lệ, giữ chân nhân viên ở lại với Luan van 8 doanh nghiệp.
Khi thực hiện mua cổ phiếu quỹ bằng hình thức này thường nguồn tiền thanh toán sẽ được trích ra từ quỹ khen thưởng hoặc phúc lợi. Thứ năm, mua lại cổ phiếu quỹ để điều chỉnh giảm vốn điều lệ của công ty. Trường hợp này thường ít được xảy ra ở trên thực tế.2 Các hình thức mua lại cổ phiếu Tuỳ theo mục đích, đặc điểm của từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp sẽ đưa ra các hình thức khác nhau để thực hiện việc mua lại cổ phiếu. Nhìn chung, các doanh nghiệp thực hiện các chương trình mua lại cổ phần theo một số cách thức: Chào mua với giá cố định.
Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan Phân phối quyền bán lại có khả năng chuyển nhượng Mua lại cổ phiếu mục tiêu.1 Chào mua với giá cố định Mua trực tiếp từ các cổ đông của mình bằng cách đưa ra một giá đệm (thường cao hơn giá thị trường). Chẳng hạn như ở Mỹ, chênh lệch giữa 2 mức giá này thường là 20% đến 25%. Tỷ lệ cổ phần mà công ty dự kiến mua lại thường dao động trong phạm vi 15% đến 19% tổng số cổ phần đang lưu hành và chương trình mua lại cổ phần thường kéo dài trong vòng 3 – 4 tuần. Nếu số lượng cổ đông chào bán lớn hơn lượng dự tính, thì công ty có thể mua lại nhiều hơn số cổ phần ban đầu định mua (Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính).
Trong trường hợp số cổ đông chào bán quá ít, doanh nghiệp có thể mua lại số cổ phần đó và kéo dài thời gian chào mua hoặc hủy bỏ kế hoạch mua lại cổ phiếu.2 Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở Mua lại cổ phiếu trên thị trường mở là việc doanh nghiệp mua cổ phần ở thị trường tự do hay có thể là việc thương lượng riêng để mua lại từ những người nắm giữ lượng lớn các cổ phần như là các định chế tài chính chẳng hạn. Doanh nghiệp có thể thực hiện việc mua lại theo kiểu này với thời gian dài, hàng tháng hay thậm chí là hàng năm, với giá mua bằng với giá thị trường. Do đó, hình thức mua này ít mang tính chất đột ngột hơn và hiệu quả báo hiệu của nó có thể thấp hơn việc mua với giá cố định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí với hình thức mua lại này vì họ không phải đưa ra giá cao hơn để thu hút các cổ đông hiện tại.
Thông thường thì chương trình này được đưa ra khi doanh nghiệp vừa trải qua một thời kỳ sụt giá trên thị trường.3 Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá kiểu Hà Lan Đây là một hình thức mới xuất hiện ở Mỹ vào những năm 1980 khi mà các công ty có thể sử dụng hình thức này để thay thế cho hình thức chào mua công khai với giá cố định. Đến cuối năm 1980, mỗi năm có hơn 20 công ty ở Mỹ thực hiện mua lại cổ phiếu bằng hình thức này. Trong phương pháp đấu giá kiểu Hà Lan, doanh nghiệp xác định một biên độ giá và số cổ phiếu định mua lại. Những cổ đông quan tâm đến chương trình này sẽ gửi đến công ty một đề nghị bán lại với mức giá tối thiểu mà họ có thể chấp nhận được (dĩ nhiên là mức giá này phải nằm trong biên độ giá đã xác định).
Sau đó, công ty tập hợp các đề nghị chào bán này lại và sắp xếp chúng thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao để có thể mua lại số cổ phiếu mong đợi với chi phí thấp. Tại Mỹ, theo điều khoản về sự công bằng trong Đạo luật về Ủy Ban Sở giao dịch chứng khoán năm 1934, mức giá này sẽ được công ty trả cho tất cả những người chào bán với một mức giá đúng mức giá mà công ty xác định mua đủ hoặc thấp hơn. Thông thường, mức giá xác định thường cao hơn giá thị trường khoảng 2% và giá tối đa có thể đạt xấp xỉ giá mua lại trong phương pháp chào mua theo giá cố định. Và chênh lệch trong cách mua Luan van 10 lại cổ phiếu theo kiểu này so với giá thị trường (tính trung bình) thường thấp hơn so với cách mua với giá cố định.4 Phân phối quyền bán lại có khả năng chuyển nhượng Đây là một bước cải tiến khác trong hoạt động mua lại cổ phiếu.
Theo phương pháp này, các cổ đông có quyền bán lại cho công ty ở một mức giá thực hiện xác định trong một khoảng thời gian nhất định (trước thời điểm đáo hạn). Những cổ đông không muốn thực hiện quyền bán lại có thể giao dịch các quyền chọn bán trên thị trường thứ cấp được lập ra cho mục đích này. Theo đó, các cổ đông có giá đăng k bán lại cổ phiếu cao có thể bán quyền cho các cổ đông có giá đăng k thấp để thu một khoản tiền. Mặt khác, do chỉ có những cổ đông đặt giá bán lại ở mức thấp mới bán được cổ phiếu mà họ đang nắm giữ cho công ty nên tổng các khoản thuế (đánh vào thu nhập từ lời vốn) mà cổ đông phải chịu giảm đi và chi phí cho việc thực hiện mục tiêu thâu tóm không tăng lên.5 Mua lại cổ phiếu mục tiêu Đây là phương pháp mua lại cổ phiếu nhằm vào một nhóm cổ đông nhất định.
Một trong những đối tượng của phương pháp này có thể là các cổ đông nhỏ với mục đích giảm thiểu chi phí cho việc phục vụ các tài khoản nhỏ. Trên thị trường Mỹ, mức giá cho phương thức mua lại cổ phiếu này thường cao hơn mức giá thị trường khoảng 10%.