Tổng quan luận án
Nghiên cứu của Đào Trung Kiên (2023) với đề tài "Tác động của năng lực động tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam", thuộc ngành Quản lý công nghiệp (mã số: 9510601) tại Đại học Bách khoa Hà Nội, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Danh Nguyên và TS. Lê Thị Thu Hà. Luận án tiếp cận một vấn đề thực tiễn cấp thiết trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang hội nhập quốc tế sâu rộng và chịu nhiều tác động từ biến động vĩ mô toàn cầu.
Theo số liệu từ Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam được luận án trích dẫn, giai đoạn 2018–2021 ghi nhận hơn 130 nghìn doanh nghiệp thành lập mới mỗi năm, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên hơn 900 nghìn. Tuy nhiên, chỉ khoảng gần 70% doanh nghiệp có báo cáo kết quả kinh doanh và có đến gần 50% doanh nghiệp báo cáo lỗ. Bên cạnh đó, trung bình hàng năm có hơn 25 nghìn doanh nghiệp tạm dừng hoạt động (riêng năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, con số này tăng lên hơn 45 nghìn doanh nghiệp) và trên 15 nghìn doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể. Cùng với đó, các biến động kinh tế - chính trị quốc tế như xung đột thương mại Mỹ - Trung, đại dịch COVID-19 và cuộc xung đột Nga - Ukraine từ tháng 3/2022 đã tạo ra những cú sốc kinh tế và môi trường kinh doanh bất định, đặt ra yêu cầu cấp bách cho các doanh nghiệp trong việc xác định, duy trì và tái định dạng các năng lực để tồn tại và thích ứng.
Thực tiễn phân tích chiến lược tại Việt Nam cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn tiếp cận theo lý thuyết tổ chức ngành (Industrial Organization - IO) của Porter hoặc lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) của Barney và Wernerfelt. Tuy nhiên, các lý thuyết truyền thống này bộc lộ hạn chế khi giải thích sự suy thoái của các tổ chức sở hữu nguồn lực lớn nhưng thất bại trước sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) được xem là khung phân tích bổ sung phù hợp nhưng còn ít được nghiên cứu thực nghiệm toàn diện tại Việt Nam.
Từ bối cảnh đó, luận án xác định các khoảng trống nghiên cứu chính:
- Ranh giới lý thuyết chưa rõ ràng trong việc xác lập các tiêu chí cụ thể để nhận diện một năng lực thông thường thành năng lực động;
- Sự thiếu thống nhất trong các cách tiếp cận đo lường năng lực động giữa mô hình tổng hợp và mô hình các năng lực cụ thể;
- Thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm đa ngành đánh giá đồng thời tác động của các thành phần năng lực động tới kết quả kinh doanh trong điều kiện có sự can thiệp của các yếu tố môi trường (nhiễu động thị trường, cường độ cạnh tranh) và các cú sốc kinh tế lớn (điển hình là đại dịch COVID-19).
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Làm rõ tiêu chí xác định các dạng năng lực cụ thể có thể xem là năng lực động, đánh giá tác động của các thành phần năng lực động tới kết quả kinh doanh, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của các yếu tố môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của cú sốc kinh tế đối với mối quan hệ này.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm về năng lực động và xác lập hệ tiêu chí nhận diện các dạng năng lực động cụ thể của doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Thiết lập mô hình phân tích đánh giá ảnh hưởng của các thành phần năng lực động đến kết quả kinh doanh có tính đến tác động điều tiết của môi trường kinh doanh (nhiễu động thị trường, cường độ cạnh tranh) và cú sốc kinh tế.
- Đánh giá thực nghiệm mức độ tác động của các thành phần năng lực động, kiểm định các hiệu ứng điều tiết của môi trường và ước lượng tác động của đại dịch COVID-19 đến sự thay đổi kết quả kinh doanh.
- Đề xuất các khuyến nghị, hàm ý quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam nhằm nuôi dưỡng và phát triển năng lực động.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Dạng năng lực như thế nào được xem là năng lực động đối với các doanh nghiệp Việt Nam, và những tiêu chí nào được sử dụng để tham chiếu đánh giá?
- Các dạng năng lực động được đo lường như thế nào và có những dạng năng lực cụ thể nào được xác định là năng lực động chính?
- Các dạng năng lực động cụ thể tác động qua lại với nhau như thế nào và ảnh hưởng ra sao đến kết quả kinh doanh khi chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường kinh doanh?
- Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam có thể nuôi dưỡng, phát triển các dạng năng lực động nhằm cải thiện kết quả kinh doanh và thiết lập lợi thế cạnh tranh?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực động của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa năng lực động với kết quả kinh doanh.
- Phạm vi nội dung: Hệ thống hóa lý thuyết năng lực động, phát triển thang đo, kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính có biến điều tiết và phân tích tác động của cú sốc kinh tế.
- Phạm vi không gian: Doanh nghiệp thuộc các ngành nghề hoạt động trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2017–2021; dữ liệu sơ cấp từ điều tra khảo sát doanh nghiệp được thực hiện trong hai năm 2021 và 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã thực hiện tổng quan có hệ thống các nền tảng lý thuyết hình thành nên quan điểm năng lực động và các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế.
Nguồn gốc của lý thuyết năng lực động bắt đầu từ những năm 1930 và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1980–1990, tích hợp từ nhiều trường phái học thuật:
- Lý thuyết tổ chức ngành (IO): Bắt nguồn từ mô hình Cấu trúc - Hành vi - Kết quả (SCP) của Mason (1939), Bain (1968) và mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter (1980, 1985). Trường phái này nhấn mạnh vị thế ngành và cấu trúc thị trường quyết định hiệu quả kinh doanh, nhưng bị phê phán là mô hình tĩnh (Rumelt, 1991).
- Lý thuyết tiến hóa kinh tế: Đại diện bởi Nelson & Winter (1982), giải thích sự thay đổi của doanh nghiệp theo thời gian trong môi trường liên tục biến đổi.
- Lý thuyết phát triển sản phẩm: Điển hình là nghiên cứu của Clark & Fujimoto (1991), phân tích cách doanh nghiệp tạo ra năng lực khó bắt chước thông qua hoạt động đổi mới sản phẩm và dịch vụ.
- Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (RBV): Khởi nguồn từ Penrose (1959), Wernerfelt (1984), Barney (1986, 1991), Prahalad & Hamel (1990), Rumelt (1991), Peteraf (1993). RBV khẳng định lợi thế cạnh tranh xuất phát từ các nguồn lực bên trong thỏa mãn tiêu chí VRIN (Valuable - Có giá trị, Rare - Hiếm, Inimitable - Khó bắt chước, Non-substitutable - Khó thay thế). Tuy nhiên, RBV bị chỉ trích là thiếu khả năng giải thích sự thích ứng trong môi trường biến động cao (Eisenhardt & Martin, 2000; Priem & Butler, 2001).
- Lý thuyết tổ chức học hỏi: Tiêu biểu là Argyris & Schon (1978), Senge (1990), Huber (1991), xem xét việc tích lũy, sắp xếp tri thức và điều chỉnh thói quen tổ chức để nâng cao khả năng thích ứng.
Lý thuyết năng lực động chính thức được định hình qua các công trình của Teece & Pisano (1994) và Teece, Pisano & Shuen (1997), sau đó được mở rộng bởi Eisenhardt & Martin (2000), Zollo & Winter (2002), Zahra & George (2002), Teece (2007, 2010).
| Tác giả |
Định nghĩa năng lực động trích dẫn trong luận án |
| Helfat (1997) |
Tập hợp của những năng lực/khả năng cho phép công ty tạo ra những sản phẩm mới, quy trình mới và khả năng đáp ứng những thay đổi của bối cảnh thị trường. |
| Teece và cộng sự (1997) |
Khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh. |
| Eisenhardt & Martin (2000) |
Quá trình doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực - đặc biệt là quá trình tích hợp, định dạng lại để đạt được và giải phóng các nguồn lực để phù hợp với hoặc thậm chí tạo ra sự thay đổi của thị trường. |
| Lee và cộng sự (2002) |
Nguồn lực mới hơn của lợi thế cạnh tranh trong khái niệm làm thế nào các doanh nghiệp có thể ứng phó với những biến đổi của môi trường kinh doanh. |
| Rindova & Taylor (2000) |
Thể hiện ở hai mức độ phát triển: cấp độ vi mô là nâng cấp năng lực quản lý của doanh nghiệp, cấp độ vĩ mô là định dạng lại năng lực thị trường. |
| Zahra & George (2002) |
Khả năng thay đổi định hướng giúp các doanh nghiệp tái triển khai và định dạng lại các nguồn lực cơ bản của họ để đáp ứng sự phát triển của nhu cầu khách hàng và đối thủ cạnh tranh. |
| Zollo & Winter (2002) |
Khả năng học hỏi và ổn định các hoạt động của tổ chức, thông qua đó hệ thống của tổ chức thay đổi thói quen trong hoạt động của mình, theo đuổi các hoạt động cải thiện hiệu quả. |
Về đo lường năng lực động, luận án phân loại thành hai dòng nghiên cứu chính:
- Đo lường năng lực động tổng hợp: Tiếp cận đơn hướng (Wu, 2006; Wu & Wang, 2007; Monteiro và cộng sự, 2019) hoặc đa hướng dựa trên các quá trình nhận biết (sensing), nắm bắt (seizing) và tái cấu trúc (reconfiguring) (Wilden và cộng sự, 2013; Wilhelm và cộng sự, 2015; Pavlou & El Sawy, 2011; Protogerou và cộng sự, 2012; Mikalef & Pateli, 2017; Makkonen và cộng sự, 2014).
- Đo lường thông qua các dạng năng lực cụ thể: Xem xét các năng lực chuyên biệt thỏa mãn tiêu chí VRIN và hướng tới sự thay đổi của thị trường (Keh và cộng sự, 2007; Morgan và cộng sự, 2009; Najafi-Tavani và cộng sự, 2016; Tapanainen và cộng sự, 2022; tại Việt Nam có Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009; Bùi Quang Tuyến, 2017).
Về đo lường kết quả kinh doanh, tác giả tổng hợp sự khác biệt giữa hai phương pháp đánh giá khách quan và chủ quan:
| Khía cạnh khác biệt |
Đo lường chủ quan |
Đo lường khách quan |
| Khía cạnh đánh giá |
Tập trung vào kết quả tổng thể |
Tập trung vào đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính cụ thể |
| Tiêu chuẩn đánh giá |
Người đánh giá được hỏi về kết quả tương đối của doanh nghiệp họ với mục tiêu (hoặc đối thủ, trung bình ngành) |
Người đánh giá được hỏi về dữ liệu tài chính tuyệt đối của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận,...) |
| Thang đánh giá |
Đánh giá theo thang đo nhận định như "rất kém" - "rất tốt", "rất thấp" - "rất cao", "rất không đồng ý" - "hoàn toàn đồng ý" |
Không sử dụng thang đo nhận định mà sử dụng dữ liệu thực tế |
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa cách tiếp cận đo lường thông qua các năng lực cụ thể, giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách thiết lập khung 3 tiêu chí nhận diện năng lực động, tích hợp kiểm định 6 nhóm năng lực cụ thể trong một mô hình cấu trúc, đồng thời đưa vào biến điều tiết môi trường và biến cú sốc kinh tế COVID-19 trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án định nghĩa: "Năng lực động là những dạng năng lực cụ thể giúp doanh nghiệp xây dựng, tích hợp và định dạng lại những nguồn lực bên trong và bên ngoài hướng tới cải thiện khả năng đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường".
Để xác định một năng lực cụ thể có phải là năng lực động hay không, luận án đề xuất hệ thống 3 tiêu chí tham chiếu:
- Tiêu chí 1 - Năng lực cốt lõi: Năng lực phải thỏa mãn khung tiêu chuẩn VRIN của Barney (1991) gồm có giá trị (Valuable), hiếm (Rare), khó bắt chước (Inimitable) và khó thay thế (Non-substitutable).
- Tiêu chí 2 - Gắn liền với các quy trình nền tảng của năng lực động: Năng lực phải hỗ trợ khả năng nhận biết cơ hội và nguy cơ (sensing), nắm bắt cơ hội (seizing), và tổ hợp, định dạng lại các nguồn lực (reconfiguring) theo khung lý thuyết của Teece (2007, 2010).
- Tiêu chí 3 - Hướng đích môi trường: Năng lực phải hướng tới việc thích ứng và đáp ứng sự thay đổi của môi trường kinh doanh, thị trường và khách hàng.
Dựa trên 3 tiêu chí trên, luận án xác định 6 nhân tố năng lực động cụ thể:
- Năng lực định hướng kinh doanh (Entrepreneurial Orientation): Cấu trúc bậc hai gồm 3 thành phần: tính chủ động (proactiveness), khả năng chấp nhận mạo hiểm (risk-taking) và năng lực sáng tạo (innovativeness) (Lumpkin & Dess, 1996; Miller, 1983; Covin & Slevin, 1989).
- Năng lực định hướng thị trường (Market Orientation): Khả năng thu thập, phổ biến và đáp ứng thông tin thị trường (Kohli & Jaworski, 1990; Narver & Slater, 1990).
- Năng lực định hướng học hỏi (Learning Orientation): Cam kết học hỏi, tư duy cởi mở và chia sẻ tầm nhìn (Sinkula và cộng sự, 1997; Baker & Sinkula, 1999).
- Năng lực tiếp thu (Absorptive Capacity): Khả năng nhận biết giá trị, đồng hóa và khai thác tri thức mới từ bên ngoài (Cohen & Levinthal, 1990; Zahra & George, 2002).
- Năng lực thích nghi (Adaptive Capacity): Khả năng điều chỉnh chiến lược và cơ cấu tổ chức để phản ứng linh hoạt trước sự thay đổi của môi trường (Tuominen và cộng sự, 2004; Oktemgil & Greenley, 1997).
- Năng lực marketing (Marketing Capability): Các kỹ năng và quy trình thực thi chính sách sản phẩm, giá, phân phối, truyền thông và nghiên cứu thị trường (Vorhies & Morgan, 2005).
Các biến điều tiết và bối cảnh bao gồm:
- Cường độ cạnh tranh (Competitive Intensity) và Nhiễu động thị trường (Market Turbulence) (Jaworski & Kohli, 1993).
- Cú sốc kinh tế: Đo lường thông qua sự kiện đại dịch COVID-19.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định tính 1: Tổng quan tài liệu, xây dựng khung lý thuyết
↓
Nghiên cứu định tính 2: Thảo luận chuyên gia điều chỉnh, bổ sung thang đo
↓
Nghiên cứu định lượng 1: Khảo sát sơ bộ, đánh giá độ tin cậy thang đo ban đầu
↓
Nghiên cứu định lượng 2: Điều tra chính thức, phân tích PLS-SEM và Logistic Regression
↓
Nghiên cứu định tính 3: Phỏng vấn sâu chuyên gia để thảo luận, giải thích kết quả
- Nghiên cứu định tính:
- Phương pháp văn bản học và tổng hợp tài liệu được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận và khoảng trống nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức thảo luận lấy ý kiến chuyên gia để điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát trong thang đo nghiên cứu nhằm đảm bảo giá trị nội dung và tính phù hợp với bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.
- Phỏng vấn sâu chuyên gia sau phân tích định lượng nhằm làm rõ cơ chế tác động và giải thích các kết quả thống kê thu được.
- Nghiên cứu định lượng:
- Thu thập dữ liệu: Điều tra bảng hỏi cấu trúc gửi tới đối tượng là lãnh đạo cấp cao và quản lý của các doanh nghiệp trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
- Đánh giá thiên lệch: Kiểm định phương pháp thông thường (Common Method Bias - CMB) và độ lệch do không phản hồi (Non-response bias).
- Đánh giá thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach's Alpha, hệ số tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR), hệ số tin cậy Dijkstra-Henseler ($\rho_A$) và phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted - AVE). Đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt qua mô hình đo lường bậc một, bậc hai và mô hình tới hạn (CFA).
- Kiểm định mô hình cấu trúc: Sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) để kiểm định các giả thuyết trực tiếp và gián tiếp (vai trò trung gian).
- Phân tích biến kiểm soát: Sử dụng phương pháp biến giả (dummy variables).
- Phân tích quan hệ điều tiết: Bổ sung biến tích chuẩn hóa (interaction term) để ước lượng hiệu ứng điều tiết của nhiễu động thị trường và cường độ cạnh tranh.
- Phân tích tác động của cú sốc kinh tế: Sử dụng mô hình hồi quy logistic (Binary Logistic Regression) để ước lượng mức độ tác động của đại dịch COVID-19 đến sự suy giảm hoặc cải thiện kết quả kinh doanh.
- Phân tích so sánh: Sử dụng kiểm định độc lập t-test và phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) để đánh giá sự khác biệt về năng lực động theo quy mô, loại hình và ngành nghề doanh nghiệp.
- Công cụ và phần mềm xử lý dữ liệu: SPSS, SmartPLS và ngôn ngữ lập trình R.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực động và kết quả kinh doanh
Chương này tập trung luận giải nguồn gốc hình thành của lý thuyết năng lực động từ lý thuyết kinh tế học tiến hóa, lý thuyết tổ chức ngành, lý thuyết nguồn lực và lý thuyết tổ chức học hỏi. Tác giả phân tích các quan điểm lý thuyết của Teece, Pisano, Eisenhardt, Martin, Zollo, Winter và Zahra. Chương 1 cũng hệ thống hóa các hướng nghiên cứu đo lường năng lực động trên thế giới và tại Việt Nam, phân tích các quan điểm về đo lường kết quả kinh doanh (chủ quan và khách quan), từ đó chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu lớn và xác lập 4 câu hỏi nghiên cứu của luận án.
Chương 2. Cơ sở lý luận về năng lực động và quan hệ giữa năng lực động với kết quả kinh doanh
Chương 2 phân định ranh giới lý thuyết giữa khái niệm nguồn lực và năng lực động, đồng thời luận chứng 3 tiêu chí xác định năng lực động. Chương này phân tích chi tiết cơ sở lý luận của 6 nhân tố năng lực động: định hướng kinh doanh (gồm chủ động, mạo hiểm, sáng tạo), định hướng thị trường, định hướng học hỏi, năng lực tiếp thu, năng lực thích nghi và năng lực marketing. Tác giả thiết lập luận điểm về mối quan hệ giữa năng lực động, lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh; luận giải tác động điều tiết của các yếu tố môi trường (cường độ cạnh tranh, nhiễu động thị trường) và tác động của cú sốc kinh tế tới sự biến động trong hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu lý thuyết tổng quát và xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu. Tác giả chi tiết hóa quy trình nghiên cứu hỗn hợp, phương pháp phát triển và hiệu chỉnh thang đo từ tổng quan tài liệu kết hợp thảo luận chuyên gia. Chương này mô tả kỹ thuật chọn mẫu khảo sát, phương pháp kiểm soát thiên lệch phản hồi, và chi tiết hóa quy trình phân tích dữ liệu đa biến: đánh giá mô hình đo lường, mô hình tới hạn, ước lượng mô hình cấu trúc PLS-SEM, phân tích biến trung gian, biến kiểm soát, ước lượng hồi quy điều tiết và mô hình hồi quy logistic đánh giá cú sốc COVID-19.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm từ tập dữ liệu khảo sát:
- Phân tích bối cảnh phát triển doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016–2021 qua các số liệu thống kê về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, giải thể, tạm dừng hoạt động và tỷ lệ báo cáo kết quả kinh doanh.
- Trình bày kết quả thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát (phân bố theo vùng kinh tế, ngành nghề hoạt động, quy mô lao động, loại hình sở hữu).
- Kết quả kiểm định thang đo: Báo cáo chi tiết các hệ số Cronbach's Alpha, CR, $\rho_A$, AVE của các thang đo đơn hướng và đa hướng (năng lực marketing, định hướng kinh doanh, định hướng thị trường, định hướng học hỏi, năng lực tiếp thu, năng lực thích nghi). Tất cả các thang đo đều đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt tại mô hình tới hạn.
- Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc PLS-SEM: Kiểm định các giả thuyết về tác động trực tiếp của các thành phần năng lực động tới kết quả kinh doanh; đánh giá tác động của các biến kiểm soát; ước lượng hệ số tác động trung gian và hệ số tác động tổng hợp giữa các biến nghiên cứu.
- Kết quả ước lượng hiệu ứng điều tiết: Phân tích mức độ tác động của nhiễu động thị trường và cường độ cạnh tranh làm thay đổi cường độ mối quan hệ giữa các nhân tố năng lực động và kết quả kinh doanh.
- Kết quả mô hình hồi quy logistic: Đo lường tác động của đại dịch COVID-19 đến sự thay đổi kết quả kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận, thị phần) và vai trò của các năng lực động trong việc hỗ trợ doanh nghiệp chống chịu trước cú sốc kinh tế.
- Kết quả kiểm định t-test và ANOVA: Đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ sở hữu các năng lực động theo các đặc điểm quy mô, thâm niên và ngành nghề của doanh nghiệp.
- Thống kê mô tả điểm đánh giá trung bình và mức độ phân bố cảm nhận của doanh nghiệp đối với từng dạng năng lực động và kết quả kinh doanh đạt được.
Chương 5. Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu
Chương 5 tiến hành đối sánh, thảo luận các kết quả phân tích định lượng với các công trình nghiên cứu trước đây và kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia. Tác giả đề xuất 4 nhóm hàm ý quản trị thực tiễn nhằm nâng cao kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp Việt Nam: (1) Tăng cường định hướng kinh doanh; (2) Cải thiện năng lực định hướng thị trường và năng lực marketing; (3) Xây dựng doanh nghiệp như một tổ chức học tập và nâng cao năng lực tiếp thu tri thức; (4) Cải thiện năng lực thích nghi trước các biến động môi trường. Cuối chương, luận án nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và đề xuất định hướng cho các công trình tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Làm rõ khái niệm và xác lập hệ tiêu chí nhận diện năng lực động: Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực động, phân biệt rõ giữa năng lực thông thường và năng lực động, đồng thời đề xuất 3 tiêu chí cụ thể để xác định một năng lực là năng lực động (đạt tiêu chuẩn VRIN, phục vụ 3 quy trình sensing - seizing - reconfiguring, và hướng tới thích ứng môi trường).
- Mở rộng khung phân tích thực nghiệm: Xây dựng thành công mô hình cấu trúc tích hợp kiểm định đồng thời tác động của 6 nhân tố năng lực động cụ thể tới kết quả kinh doanh, bổ sung các biến điều tiết môi trường (cường độ cạnh tranh, nhiễu động thị trường) và biến cố cú sốc kinh tế vĩ mô (đại dịch COVID-19).
- Chuẩn hóa bộ công cụ đo lường: Phát triển, điều chỉnh và kiểm định thành công bộ thang đo cho các nhân tố năng lực động và biến động môi trường phù hợp với đặc thù thể chế và bối cảnh hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam, đạt độ tin cậy và giá trị phân biệt theo các tiêu chuẩn phân tích dữ liệu đa biến.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
Dựa trên kết quả phân tích định lượng và phỏng vấn sâu chuyên gia, luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm cho các nhà quản trị doanh nghiệp:
- Tăng cường định hướng kinh doanh: Nâng cao tính chủ động đón đầu xu hướng thị trường, khuyến khích các thử nghiệm sáng tạo nội bộ, và xây dựng cơ chế chấp nhận rủi ro có tính toán trong việc triển khai các dự án kinh doanh mới.
- Cải thiện định hướng thị trường và năng lực marketing: Hoàn thiện hệ thống thu thập, xử lý và chia sẻ thông tin khách hàng; tối ưu hóa các quy trình quản trị sản phẩm, định giá linh hoạt, mở rộng kênh phân phối và tăng cường năng lực nghiên cứu thị trường.
- Xây dựng tổ chức học tập và phát triển năng lực tiếp thu: Khuyến khích văn hóa chia sẻ tri thức, chủ động tìm kiếm, tiếp nhận và chuyển hóa các công nghệ, tri thức từ đối tác, nhà cung cấp và môi trường bên ngoài vào quy trình vận hành nội bộ.
- Nâng cao năng lực thích nghi: Tăng cường tính linh hoạt trong cơ cấu tổ chức, thiết lập quy trình phản ứng nhanh trước các biến động bất ngờ của thị trường và các cú sốc kinh tế vĩ mô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án tự chỉ ra các hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional design): Dữ liệu khảo sát được thu thập tại một thời điểm nhất định (năm 2021–2022), do đó chưa phản ánh đầy đủ tiến trình biến đổi và tích lũy theo thời gian dài của các dạng năng lực động trong doanh nghiệp.
- Bối cảnh khảo sát đặc thù: Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra trong giai đoạn chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch COVID-19, điều này có thể dẫn đến những phản ứng và đánh giá mang tính chất phòng vệ, ngắn hạn của các nhà quản trị.
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Mặc dù mẫu khảo sát trải rộng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng phạm vi áp dụng vẫn gói gọn trong khuôn khổ các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Thực hiện các nghiên cứu theo chuỗi thời gian (Longitudinal studies) để theo dõi sự tiến hóa của năng lực động và tác động dài hạn của chúng tới kết quả kinh doanh qua các chu kỳ kinh tế khác nhau.
- Mở rộng khảo sát và so sánh thực nghiệm sang các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực có điều kiện tương đồng với Việt Nam.
- Xem xét bổ sung các nhân tố năng lực động tiềm năng khác (như năng lực chuyển đổi số, năng lực liên kết mạng lưới) vào mô hình phân tích.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp một khung tổng quan tài liệu toàn diện về sự phát triển của lý thuyết quản trị chiến lược (từ IO, RBV đến Dynamic Capabilities); cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình phát triển thang đo và ứng dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp PLS-SEM và hồi quy logistic.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp: Cung cấp bộ công cụ tự đánh giá và khung tham chiếu thực tiễn để rà soát, định vị các năng lực cốt lõi trong tổ chức, từ đó phân bổ nguồn lực hợp lý nhằm xây dựng năng lực thích nghi và duy trì kết quả kinh doanh bền vững.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp: Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về thực trạng sức khỏe doanh nghiệp, mức độ tổn thương trước các cú sốc vĩ mô, làm cơ sở xây dựng các chương trình đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đề xuất những tiêu chí cụ thể nào để xác định một năng lực là năng lực động?
Luận án đề xuất 3 tiêu chí: (1) Năng lực phải là năng lực cốt lõi thỏa mãn chuẩn VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Non-substitutable); (2) Năng lực phải gắn liền với 3 quy trình nền tảng là nhận biết cơ hội/nguy cơ (sensing), nắm bắt cơ hội (seizing) và tái định dạng nguồn lực (reconfiguring); (3) Năng lực phải hướng tới mục tiêu đáp ứng sự thay đổi của môi trường kinh doanh, thị trường và khách hàng.
2. Mô hình nghiên cứu của luận án bao gồm những nhân tố năng lực động cụ thể nào?
Luận án kiểm định 6 nhân tố năng lực động cụ thể: (1) Năng lực định hướng kinh doanh (gồm chủ động, mạo hiểm, sáng tạo); (2) Năng lực định hướng thị trường; (3) Năng lực định hướng học hỏi; (4) Năng lực tiếp thu; (5) Năng lực thích nghi; và (6) Năng lực marketing.
3. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật định lượng nào để kiểm định mô hình?
Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach's Alpha, CR, $\rho_A$, AVE để kiểm định thang đo; mô hình đo lường và mô hình tới hạn (CFA) để đánh giá giá trị hội tụ và phân biệt; mô hình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) để kiểm định các giả thuyết chính và vai trò trung gian; phương pháp biến tích chuẩn hóa để phân tích biến điều tiết; mô hình hồi quy logistic để ước lượng tác động của cú sốc COVID-19; kiểm định t-test và ANOVA để phân tích khác biệt theo nhóm doanh nghiệp; trên các phần mềm SPSS, SmartPLS và R.
4. Cú sốc kinh tế do đại dịch COVID-19 được luận án đưa vào mô hình nghiên cứu như thế nào?
Luận án đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 như một biến cố sốc kinh tế ngoại sinh thông qua mô hình hồi quy logistic, nhằm ước lượng xác suất và mức độ mà các năng lực động hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu nguy cơ suy giảm doanh thu, lợi nhuận, thị phần và duy trì hoạt động kinh doanh trong giai đoạn khủng hoảng.
5. Luận án phân biệt phương pháp đo lường kết quả kinh doanh chủ quan và khách quan dựa trên những tiêu chí nào?
Tác giả hệ thống hóa qua 3 tiêu chí: (1) Khía cạnh đánh giá (kết quả tổng thể ở chủ quan so với các chỉ tiêu tài chính cụ thể ở khách quan); (2) Tiêu chuẩn đánh giá (so sánh tương đối với mục tiêu/đối thủ ở chủ quan so với dữ liệu tài chính tuyệt đối ở khách quan); (3) Thang đo (thang nhận định Likert ở chủ quan so với số liệu thực tế ở khách quan).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đào Trung Kiên (2023) đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực động và giải quyết khoảng trống học thuật về tiêu chí nhận diện, công cụ đo lường năng lực động tại các doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp mô hình cấu trúc PLS-SEM và hồi quy logistic, công trình đã kiểm định thực nghiệm tác động của 6 nhóm năng lực động cụ thể tới kết quả kinh doanh trong điều kiện có sự can thiệp của môi trường cạnh tranh và cú sốc kinh tế COVID-19. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hàm ý quản trị thực tiễn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng, tái cấu trúc nguồn lực nhằm thiết lập lợi thế cạnh tranh bền vững trong môi trường kinh doanh biến động.