CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực động 1. Nguồn gốc lý thuyết năng lực động Quan điểm về năng lực động doanh nghiệp được khởi xướng ban đầu từ những năm 1990 [8], [12].
Theo Teece và cộng sự (1997) nguồn gốc khái niệm năng lực động bắt đầu từ những năm 1930 với lý thuyết kinh tế học tiến hóa [74], [75]. Nền tảng chính (nguồn gốc) của quan điểm năng lực động trong doanh nghiệp xuất phát và tích hợp từ các lý thuyết tổ chức ngành (IO), lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và lý thuyết về tổ chức học hỏi [3], [8], [11], [12]. Dựa trên đánh giá các lý thuyết về cạnh tranh truyền thống và đưa ra những phê phán chúng thiếu toàn diện cho môi trường động. Chẳng hạn, lý thuyết tổ chức ngành với đại diện là các nghiên cứu của Porter đựa trên phân tích năm lực lượng cạnh tranh đựa trên giả định các ngành kinh doanh khác nhau là khác nhau, doanh nghiệp tận dụng lợi thế ngành để thiết lập các chiến lược kinh doanh khác nhau.
Lý thuyết tổ chức ngành bị phê phán chỉ dựa vào phân tích các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và ở trạng thái thị trường cân bằng [7], [13]. Ngược lại, lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp lại cho rằng các doanh nghiệp nên thiết lập chiến lược dựa trên việc sở hữu những nguồn lực đặc trưng khác nhau. Thành công của doanh nghiệp là việc dựa trên sử dụng hiệu quả các nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu [16], [18]–[20]. Cả lý thuyết tổ chức ngành và lý thuyết nguồn lực đều có những hạn chế trong việc giải thích sự thất bại của các doanh nghiệp khi sự thay đổi của thị trường đang diễn ra nhanh chóng.
Bởi vậy, quan điểm về năng lực động trở thành một lý thuyết mới bổ sung cho các lý thuyết về cạnh tranh truyền thống giải thích ảnh hưởng của các nguồn lực, năng lực động đến việc tạo ra kết quả kinh doanh [11].1 mô tả các nền tảng hình thành lý thuyết năng lực động. Luận án Tiến sĩ 8 Quản lý Lý thuyết tổ chức ngành Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (RBV) Thuyết tiến hóa kinh tế Tại sao doanh nghiệp khác nhau (Doanh nghiệp thay đổi theo Wernerfelt (1984), Barney thời gian như thế nào) Nelson & Winter (1982) (1991) Năng lực động Doanh nghiệp làm thế nào để đổi mới nguồn lực trong thị trường động Teece và cộng sự (1997); (2007) Thuyết phát triển sản phẩm (Doanh nghiệp thay đổi theo thời gian như thế nào) Tổ chức học hỏi Clark & Fujomoto (1991) (Doanh nghiệp học hỏi và thay đổi như thế nào) Argyris & Schon (1978) Hình 1. Nguồn gốc lý thuyết năng lực động doanh nghiệp Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ nghiên cứu của Teece & Pisano (1994), Teece và cộng sự (1997), Teece và cộng sự (2007) Như thảo luận ở trên, lý thuyết năng lực động không phải một lý thuyết được phát triển độc lập với các lý thuyết khác mà là một lý thuyết bổ sung cho các lý thuyết cạnh tranh truyền thống trong bối cảnh thị trường ngày càng nhiều biến động. Cụ thể, các lý thuyết hình thành lý thuyết năng lực động được trình bày ở dưới đây.
Lý thuyết tổ chức ngành Lý thuyết tổ chức ngành (Industrial Orgainization – IO) được bắt nguồn từ mô hình cấu trúc (structure) – vận hành (conducts) – kết quả (performance) (SCP) [9], [10], [76]–[78]. Mô hình SCP cho rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào hành vi của doanh nghiệp trong các vấn đề như chính sách giá cả, R&D, và chính sách đầu tư. Hành vi của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm cơ cấu của ngành như mức độ tập trung, các rào cản gia nhập hay tốc độ tăng trưởng của ngành. IO cho rằng các đặc điểm khách quan của ngành ảnh hưởng đến hành vi (ví dụ: chiến lược) của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của họ [15], [78].
Điều này dẫn đến nhận định lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc chính vào cấu trúc ngành mà doanh nghiệp đó hoạt động. Cấu trúc ngành ảnh hưởng đến cách chọn những chiến lược có sẵn Luận án Tiến sĩ 9 Quản lý cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cụ thể cũng như các quy tắc cạnh tranh của trò chơi kinh doanh [8]. Lý thuyết đại diện và thống trị trong phân tích cạnh tranh của lý thuyết tổ chức ngành là mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter. Theo Porter (1980)[9] doanh nghiệp có thể đạt được và duy trì khả năng cạnh tranh bằng cách xác định và vô hiệu hóa những mối đe dọa từ môi trường bên ngoài.
Lập luận của Porter là các doanh nghiệp có thể tự hành động để bảo vệ mình trước các lực lượng cạnh tranh để đạt được và duy trì khả năng cạnh tranh. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh (đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế, khách hàng, nhà cung cấp và các đối thủ cạnh tranh hiện tại) là một công cụ rất hữu ích cho phân tích chiến lược hay môi trường kinh doanh trong ngành, nó cung cấp thông tin cho việc các công ty có thể tạo ra vị thế trên thị trường và tự bảo vệ mình trước các lực lượng cạnh tranh. Theo Porter, doanh nghiệp có để đạt được năng lực cạnh tranh nếu thuộc một ngành hấp dẫn với cơ cấu trạnh tranh thuận lợi. Lợi thế xuất phát từ vị thế độc quyền cho các doanh nghiệp hoạt động.
Doanh nghiệp tạo lợi nhuận nếu họ có thể cản trở các lực lượng cạnh tranh và có xu hướng đẩy lợi nhuận về mức không [79]. Cơ cấu ngành đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chiến lược mà các doanh nghiệp ở những thị trường cụ thể có thể áp dụng [79]. Một số ngành hấp dẫn hơn những ngành khác vì chúng có những trở ngại cấu trúc nhất định đối với khả năng cạnh tranh, mang lại cho họ cơ hội tốt hơn để phát triển và duy trì khả năng cạnh tranh [8], [9]. Lợi nhuận chủ yếu được tạo ra ở cấp ngành hoặc cấp phân ngành hơn là cấp doanh nghiệp [8].
Trường phái tiếp theo của lý thuyết tổ chức ngành là lý thuyết tiến hóa kinh tế [74], [75], tập trung vào cách các doanh nghiệp thay đổi theo thời gian. Lý thuyết tiến hóa kinh tế cho rằng các doanh nghiệp không giống nhau và hoạt động trong môi trường thay đổi liên tục. Do đó, các doanh nghiệp xây dựng năng lực của mình trong những bối cảnh thể chế và chính sách nhất định. Theo quan điểm này, doanh nghiệp được coi là một thực thể tìm kiếm lợi nhuận có hoạt động chính là xây dựng và khai thác các tài sản tri thức có giá trị [3].
Trường phái nghiên cứu về lý thuyết phát triển sản phẩm [80] cũng giải thích rằng các doanh nghiệp phát triển nhưng khả năng mà đối thủ khó bắt chước thông qua việc đổi mới các sản phẩm/dịch vụ. Mặc dù là một khuôn khổ lý thuyết được sử dụng rộng rãi và đã xuất hiện những nhận định cho rằng ngành quan trọng hơn doanh nghiệp trong việc đạt được khả năng hay hiệu suất doanh nghiệp [81]. Tuy nhiên, những nhận định này bị chỉ trích bởi các học giả khác cho rằng các yếu tố cụ thể của doanh nghiệp đóng góp nhiều hơn vào hoạt động của công ty là các ảnh hưởng ở cấp độ ngành [14], [15], [18]. Từ những năm 1990 nghiên cứu của Rumelt (1991)[14] đã cung cấp bằng chứng cho thấy các nhân tố cấp doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn hơn yếu tố ngành.
Luận án Tiến 10 sĩ Quản lý Việc sử dụng mô hình IO không nhận ra các nguồn lực hay năng lực cụ thể của doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn là cấu trúc ngành đã khiến mô hình IO trở thành một mô hình tĩnh không thể phát triển mạnh trong các thị trường thay đổi nhanh chóng. Điều này lại đặt ra một vấn đề lý thuyết mới trong quản trị chiến lược nhằm giải thích những yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường.2 Lý thuyết nguồn lực Cách tiếp cận thứ hai về chiến lược không xuất phát từ mô hình IO là quan điểm dựa trên nguồn lực doanh nghiệp (RBV). Theo cách tiếp cận này lợi nhuận hay kết quả hoạt động của doanh nghiệp được tạo ra do doanh nghiệp sở hữu các nguồn lực và năng lực khan hiếm cụ thể hơn là thu được từ vị thế thị trường trong ngành [8]. RBV không giống mô hình IO chỉ nhấn mạnh đến môi trường ngành về khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai mà còn cả tầm quan trọng của sự đổi mới sáng tạo của người quản lý [17], [82].
RBV giải thích việc đạt được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được tích lũy như thế nào từ việc mua lại và kiểm soát các nguồn lực không giống nhau có giá trị giữa các doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận của lý thuyết nguồn lực, các doanh nghiệp sở hữu các nguồn lực và năng lực không giống nhau tạo ra các lợi thế với những khả năng cụ thể và riêng biệt để tích lũy, phát triển và triển khai nhưng năng lực đó vào thực hiện các chiến lược tạo ra giá trị [3], [83], [84]. Do đó lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp giải thích kết quả của doanh nghiệp là việc dựa vào hiệu quả của các nguồn lực và năng lực chứ không phải dựa vào vị thế thị trường (cấu trúc ngành) để đạt được khả năng cạnh tranh. Khởi thủy của lý thuyết nguồn lực được xem như bắt đầu từ thời của học giả Chamberlain (1933) [86] cho rằng tài sản và khả năng đặc biệt của doanh nghiệp (bằng sáng chế, nhãn hiệu hay bí quyết kĩ thuật) là những nhân tố quan trọng dẫn đến lợi nhuận siêu ngạch.
Penrose (1959) [87] cho rằng sự không giống nhau về việc sở hữu các nguồn lực và tạo ra sự đặc biệt của doanh nghiệp. Mặc dù lập luận của Chamberlain (1933) và Penrose (1959) đã xác lập tầm quan trọng của việc sở hữu các nguồn lực với doanh nghiệp nhưng các ý tưởng này không có nhiều tiến triển cho đến những năm 1980 và 1990 khi nó được tiếp tục phát triển bởi Wernefelt, (1984) [16], Barney (1986; 1991) [17], [83], Prahalad & Hamel (1990) [88], Rumelt (1991) [14], Peteraf (1993) [84], và Teece và cộng sự (1997) [8]. Wernerfelt (1984) [16] định nghĩa các nguồn lực của doanh nghiệp là những tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp và những nguồn lực này có mối quan hệ với khả năng sinh lời của doanh nghiệp.