Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết của đề tài 2. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng không có mức tối ưu của việc nắm gữ tiền mặt cho công ty. Dựa trên thông tin bất cân xứng, Myers và Majluf (1984) cho thấy rằng các công ty tuân theo một trật tự tài chính để tối thiểu hóa chi phí liên quan đến thông tin bất cân xứng.
Thứ tự bắt đầu với các nguồn nội bộ, và công ty sẽ sử dụng các nguồn bên ngoài. Trật tự bắt đầu với các nguồn nội bộ và các công ty sẽ sử dụng các nguồn bên ngoài sau khi các nguồn nội bộ đang dần cạn kiệt. Myers và Majluf (1984) cho rằng các công ty tài trợ các quỹ bên ngoài bằng nợ nhiều hơn với việc phát hành vốn cổ phần mới, bởi vì nợ có chi phí thông tin thấp hơn so với vốn cổ phần. Theo đó, các công ty nên tài trợ cho các khoản đầu tư trước hết bằng lợi nhuận giữ lại, sau đó là nợ an toàn và nợ rủi ro, và cuối cùng là sử dụng vốn cổ phần để tối thiểu hóa chi phí của thông tin bất cân xứng và các chi phí tài chính khác.
Các công ty không có mức tiền mặt mục tiêu, nhưng tiền mặt lại được sử dụng như là sự cân đối giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư. Ferreira and Vilela (2004) cho rằng tiền có thể được sử dụng cho đầu tư tài chính để trả nợ cho công ty và tiếp theo là dự trữ tiền mặt, những lợi ích của nắm giữ tiền mặt là: giảm đi khả năng rơi vào khủng hoảng, kiệt quệ tài chính, cho phép công ty theo đuổi các dự án đầu tư khi các ràng buộc về tài chính được đáp ứng, tối thiểu hóa chi phí huy động nguồn vốn từ các quỹ bên ngoài, thanh lý các tài sản hiện hành. Dittmar và cộng sự (2003) cũng phát hiện ra rằng những công ty có mức độ luân chuyển tiền mặt cao thường hướng đến phân phối cổ tức, cho vay ., như là kết quả của nắm giữ tiền mặt. Như vậy việc xem xét mối quan hệ giữa nắm giữ tiền mặt và quyết định đầu tư của doanh nghiệp cần được đặt xem xét trong điều kiện của lý thuyết trật tự phân hạng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lý thuyết về nắm giữ tiền mặt được xây dựng trên cơ sở lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.
Ngoài sự đánh đổi về cấu trúc vốn, lý thuyết đánh đổi cho thấy rằng các công ty tối ưu hóa giá trị bằng cách cân nhắc giữa chi phí biên và lợi nhuận biên. Với giả định các nhà quản trị hướng đến việc tối đa hóa tài sản của cổ đông, việc nắm giữ tiền mặt sẽ làm phát sinh chi phí “nắm giữ”. Chi phí này liên quan đến sự chênh lệch giữa việc nắm giữ tiền mặt và lãi suất mà công ty sẽ phải trả để tài trợ thêm bằng tiền mặt (Dittmar và cộng sự, 2003). Bằng chứng thực nghiệm của Dittmar và cộng sự (2003) cho thấy rằng các nhà quản lý không được giám sát chặt có thể sẽ làm lãng phí dòng tiền tự do, đồng thời chỉ ra được vai trò của quản trị tác động đến giá trị của việc nắm giữ một lượng tiền mặt vượt mức cần thiết.
Chính vì thế, các công ty có trình độ quản lý kém sẽ sử dụng lượng tiền mặt dư không hiệu quả và đầu tư ít có lợi nhuận hơn so với các công ty có trình độ quản lý tốt. Do đó mối quan hệ giữa nắm giữ tiền mặt, quản lý tiền mặt và quyết định đầu tư cần được xem xét trong điều kiện của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. Lý thuyết về sự ưa thích tiền mặt Lý thuyết chính về sự ưa thích tiền mặt được Keynes (1936) xây dựng 3 động cơ chính cho việc giữ tiền: Động cơ giao dịch: Các cá nhân nắm giữ tiền vì tiền là phương tiện trao đổi để thực hiện các giao dịch hằng ngày. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Động cơ dự phòng: Keynes cho rằng ngoài nhu cầu thực hiện các giao dịch hằng ngày, người ta còn cần giữ thêm tiền cho những nhu cầu chi tiêu bất ngờ.
Tiền mặt được nắm giữ vì lý do an toàn. Khi đó số dư tiền mặt sẽ được nắm giữ để dự trữ cho các biến động không lường trước được. Từ quan điểm của động cơ dự phòng, doanh nghiệp sẽ duy trì số dư tiền mặt để tận dụng lợi thế để đầu tư số tiền này vào nguyên liệu cho việc sản xuất trong tương lai với giá tốt Besley và Brigham (2005). Động cơ đầu cơ: Keynes cho rằng tiền là phương tiện cất giữ của cải và động cơ giữ tiền là động cơ đầu cơ, nhu cầu đầu cơ phụ thuộc vào kỳ vọng của các chủ thể kinh tế đối với quá trình tăng lãi suất, tùy thuộc vào kỳ vọng lãi suất dài hạn mà các chủ thể kinh tế sẽ quyết định nắm giữ tiền mặt hay là nắm giữ chứng khoán.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây Việc kế thừa các nghiên cứu đi trước để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về một lĩnh vực, một chủ đề nào hoặc kiểm tra một kết quả nghiên cứu trước đó ở một đất nước khác với những đặc điểm riêng biệt là cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu thực nghiệm. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của mình đề tài cũng thực hiện cách tiếp cận này cho nội dung nghiên cứu của mình. Trước tiên, đề tài tiến hành tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây theo các tiêu thức: Mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho trường hợp Việt Nam. Nghiên cứu của các tác giả Almeida, H.
(2011) có kết luận tương đồng rằng: các công ty bị hạn chế về tài chính có dòng tiền nhạy cảm với mức tiền mặt mà họ nắm giữ hơn các công ty không bị giới hạn khả năng tài chính, các doanh nghiệp bị hạn chế hay nói cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 khác là gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn bên ngoài thì nắm giữ nhiều tiền mặt hơn các doanh nghiệp không bị hạn chế., (2004) “The cash flow sensitivity of cash”. Journal of Finance, 59: 1777-1804 tiến hành nghiên cứu tác động của độ nhạy cảm của dòng tiền đến việc nắm giữ tiền mặt với mục tiêu nghiên cứu độ nhạy cảm của dòng lưu chuyển tiền mặt bằng phương pháp bình phương bé nhất OLS để ước lượng độ nhạy cảm dòng tiền của các doanh nghiệp sản xuất trong giai đoạn 1971-2000. Nhóm tác giả đã phân chia mẫu nghiên cứu thành hai nhóm: nhóm thứ nhất không gặp những vấn đề hạn chế về tài chính, nhóm thứ hai gặp những vấn đề hạn chế về tài chính. Thông qua việc ước lượng hai mô hình nghiên cứu.
Mô hình thứ nhất: ∆CashHoldingsi,t = α0+ α1 CashFlowi,t + α2 Qi,t + α3 Sizei,t + εi,t Mô hình này được nhóm tác giả sử dụng nhằm kiểm tra dòng tiền, quy mô công ty và các thông tin thị trường ảnh hưởng như thế nào đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính và các doanh nghiệp không bị hạn chế về tài chính. Mô hình thứ hai: ∆CashHoldingsi,t = α0+ α1 CashFlowi,t + α2 Qi,t + α3 Sizei,t + α4 Expendituresi,t + α5 Acquisitionsi,t + α6 ∆NWCi,t + α7 ∆ShortDebti,t + εi,t Mô hình thứ hai được nhóm tác giả sử dụng nhằm xem xét mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển, dòng tiền, các thông tin thị trường, quy mô công ty, chi tiêu, hoạt động mua lại và nợ ngắn hạn tác động như thế nào đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Thông qua việc ước lượng hai mô hình nhóm tác giả tìm thấy rằng các công ty bị hạn chế về tài chính có dòng tiền nhạy cảm với mức tiền mặt mà họ nắm giữ hơn các công ty không bị giới hạn khả năng tài chính và các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính nên tăng cường nắm giữ tiền mặt sau những cú sốc kinh tế vĩ mô có tính tiêu cực trong khi các doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghiệp không bị hạn chế về tài chính thì không cần thiết phải thực hiện điều đó. Nhóm tác giả cũng cho thấy rằng việc nắm giữ tiền mặt nên thay đổi theo chu kỳ kinh doanh.
“Is cash negative debt? A hedging perspective on corporate financial policies”. Journal of Financial Intermediation, 16: 515-554 nghiên cứu về vấn đề tiền mặt và bảo hiểm rủi ro tài chính, dữ liệu được thu thập từ COMPUSTAT cho các công ty sản xuất trong giai đoạn 1971-2001 với các thông tin cơ sở được sử dụng gồm có: tổng tài sản, doanh thu, nợ, giá trị thị trường của cổ phần, tiền mặt, lợi nhuận hoạt động, khấu hao, thuế phải trả, lãi vay, cổ tức. Với việc sử dụng phương pháp ước lượng 3SLS thông qua việc ước lượng hai mô hình cơ bản cho các công ty bị hạn chế về tài chính và không bị giới hạn về tài chính bằng các nới lỏng các giả định, nhóm tác giả đã phát triển một mô hình toàn diện về sự tương tác giữa chính sách tiền mặt và các chính sách nợ của các doanh nghiệp sản xuất trong mẫu nghiên cứu. Kiểm tra thực nghiệm tiền mặt và chính sách nợ của một mẫu lớn các doanh nghiệp giới hạn và không bị giới hạn về tài chính cho thấy các doanh nghiệp hạn chế về tài chính với nhu cầu bảo hiểm rủi ro cao có xu hướng giữ lại tiền mặt trong khi không có xu hướng giảm nợ, tiền và các khoản nợ xấu đóng vai trò riêng biệt trong việc tối ưu hóa thời gian đầu tư của các doanh nghiệp khó khăn về tài chính.