CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI THANH KHOẢN ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CAR 1. Vốn ngân hàng, an toàn vốn và tính đủ vốn của ngân hàng Vốn ngân hàng là vốn đóng góp của các cổ đông - nhà đầu tư trong cổ phiếu phổ thông và ưu đãi mà một ngân hàng đã ban hành (Rose và Hudgins, 2014). Theo như Casu và cộng sự (2015), vốn của ngân hàng được hiểu là giá trị tài sản ròng (sự chênh lệch giữa tổng tài sản và tổng số nợ phải trả). “Vốn là điều kiện tiên quyết trong hoạt động của ngân hàng, đồng thời là yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng trên thị trường trong nước cũng như để vươn ra thị trường thế giới. Vốn là yêu cầu quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để cấp phép cho một ngân hàng thành lập và đi vào hoạt động, đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng đó” (Nguyệt Anh, 2011). (2008), trong một môi trường không được kiểm soát (không có bảo lãnh của chính phủ hoặc quy định về vốn), các ngân hàng vẫn sẽ nắm giữ vốn vì thị trường yêu cầu các ngân hàng phải làm như vậy. Berger & Herring (1995) định nghĩa điều này là yêu cầu về vốn của thị trường, cụ thể là yêu cầu đáp ứng thanh khoản khi người gửi tiền đến ngân hàng để rút tiền.
Lượng vốn này, hoạt động như một tấm đệm để hấp thụ những tổn thất bất ngờ xảy ra. Khi tổn thất vượt quá mức chịu đựng của “vốn đệm”, rủi ro sẽ xảy ra. Tương tự, theo Masood & Ansari (2016), sự tồn tại của các ngân hàng nằm ở khả năng duy trì đủ vốn để hoạt động trong tình huống xấu nhất – thời gian xảy ra khủng hoảng thanh khoản. Vì rủi ro của ngân hàng có tính dây chuyền, chỉ cần một ngân hàng gặp phải rủi ro, ngay lập tức, cả hệ thống ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Friedman và Schwart (1963) kết luận rằng khủng hoảng ngân hàng là nguyên nhân gây nên khủng hoảng tài chính. Vì vậy, để bảo vệ người gửi tiền và tránh sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, các cơ quan giám sát đã tập trung vào việc sử dụng tỷ lệ an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) theo các tiêu chuẩn Basel nhằm thúc đẩy sự ổn định và hiệu quả của hệ thống tài chính (Casu và cộng sự, 2015). Mức độ đủ vốn đã trở thành tiêu 8 chuẩn giám sát, một yếu tố chính để đánh giá sự ổn định và minh bạch của hệ thống, giúp tạo đệm cho các ngân hàng chống lại các cú sốc tài chính; bảo vệ người gửi tiền và bản thân ngân hàng (Jeff, 1990; Hoggarth và cộng sự, 2002). Theo Ebhodaghe (1991), an toàn vốn là việc ngân hàng điều chỉnh vốn đủ để sau khi hấp thụ tất cả các khoản lỗ, tài trợ cho tài sản cố định của ngân hàng vẫn còn lại một lượng vốn để duy trì hoạt động hiện tại và mở rộng hoạt động kinh doanh trong tương lai cho ngân hàng.
Trong thực tế, mức độ đủ vốn được coi là lượng vốn đủ để có thể bảo vệ hiệu quả hoạt động ngân hàng bằng cách hấp thụ những rủi ro, thua lỗ. Mức độ đủ vốn, theo Hiệp ước Basel, là số vốn liên quan đến tài sản và khoản vay của một tổ chức tài chính, phụ thuộc vào quy mô và chất lượng của tài sản (Casu và cộng sự, 2015). Các ngân hàng đo lường mức độ rủi ro thông qua các tài sản có rủi ro (RWA) (BIS, 1999). Cụ thể, mức độ đủ vốn được đo bằng cách sử dụng phương pháp trọng số rủi ro, trong đó vốn liên quan đến các nhóm tài sản có và cam kết ngoại bảng khác nhau nhân với các hệ số rủi ro tương ứng.
Ngân hàng được coi là đủ vốn khi đáp ứng được hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR được đề ra – nói cách khác là có đủ lượng vốn để có thể bù đắp cho những rủi ro phát sinh từ các tài sản được đề cập ở trên. Các ngân hàng có nhiều khả năng đổ vỡ nếu họ có mức độ an toàn vốn thấp hơn và việc giảm vốn liên quan đến tài sản báo hiệu cho sự suy thoái tài chính của ngân hàng (Mayes & Stremmel, 2012). Khi duy trì được hệ số CAR cao hơn có nghĩa là ngân hàng có khả năng hấp thụ rủi ro tốt hơn, hoạt động kinh doanh lành mạnh và vững chắc hơn, tỷ lệ này chỉ ra rằng ngân hàng có thể mất tới một tỷ lệ phần trăm nhất định tài sản mà không bị phá sản. Luôn có một ngưỡng cho sự an toàn vốn ngân hàng được quy định ở mỗi quốc gia, nếu hệ số CAR ở dưới ngưỡng này, ngân hàng được cho là “không đủ vốn” và dễ bị mất khả năng thanh toán.
Việc quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thúc đẩy hiệu quả và sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách giảm xác suất mất khả năng thanh toán của ngân hàng (Bateni, Vakilifard & Asghari, 2014). Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) 1. Sự ra đời và phát triển của hệ số an toàn vốn CAR Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng – Basel Committee on Banking Supervisor (viết tắt là BCBS) được thành lập năm 1974 bởi các Ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát của nhóm 10 nước phát triển (G10) với mục tiêu thiết lập ra các tiêu chuẩn chung trong hoạt động quản lý và giám sát ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cũng như ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới. Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I lần đầu được BCBS ban hành năm 1988, có hiệu lực vào năm 1992 cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR (Capital Adequacy Ratio) là 8%.
Theo Basel I, CAR sẽ được tính bằng tỷ lệ giữa vốn tự có và tài sản có rủi ro tính theo trọng số rủi ro (chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng). Trọng số rủi ro được Basel I đưa ra hết sức đơn giản, gồm 4 mức: 0%, 20%, 50% và 100%. Cụ thể, các khoản tín dụng của quốc gia sẽ có trọng số rủi ro 0%, các khoản tín dụng của các tổ chức tín dụng khác có trọng số 20%, …, khoản tín dụng của doanh nghiệp sẽ có trọng số là 100%. Chính cách chia trọng số rủi ro như vậy đã tạo nên nhược điểm lớn nhất của Hiệp ước vốn này, chính là quy điịnh này không đủ nhạy cảm với rủi ro, không phân biệt được các loại rủi ro đặc thù.
Ví dụ tất cả các khoản vay của khu vực tư nhân đều được gắn trọng số 100%, cho dù đó là khoản vay của một công ty nổi tiếng với xếp hạng tín dụng AAA hoặc của một doanh nghiệp địa phương không có tên tuổi với xếp hạng tín dụng ở mức B. Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt nhất là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2% (SBV). Ra đời ngày 26/6/2004 và có hiệu lực vào năm 2007, Basel II được giới thiệu khắc phục những hạn chế của Basel I và nhằm nâng cao kỷ luật và tính lành mạnh của hệ thống ngân hàng quốc tế với 3 trụ cột chính. Trong đó, quy định về hệ số an toàn vốn CAR tối thiểu vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro tính theo trọng số rủi ro như Basel I, nhưng không chỉ là rủi ro tín dụng mà rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường cũng được đề cập ở Basel II.
Trọng số rủi ro cũng được chia thành nhiều mức 10 độ hơn (từ 0% đến 150%), phức tạp hơn theo mức độ nhạy cảm của tài sản trước các rủi ro. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 lại một lần nữa khiến BCBS nhận ra những "lỗ hổng" của Basel II dù từng được coi là một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính. Ngay lập tức, hai năm sau, BCBS đã đạt được thỏa thuận nhằm khép các ngân hàng vào những tiêu chuẩn ngặt nghèo hơn bằng hiệp ước Basel III. Basel III đề ra nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của lĩnh vực ngân hàng.
Các tiêu chuẩn vốn và vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng phải giữ vốn nhiều hơn và chất lượng vốn cao hơn so với quy định của Basel II. Yêu cầu về hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR cao hơn thông qua quy định về đòn bẩy và tỷ lệ tính thanh khoản mới, nhằm đảm bảo duy trì hoạt động cho cơ sở tài chính trong trường hợp xảy ra cú sốc tài chính. Cách xác định hệ số an toàn vốn CAR a. Cách xác định hệ số an toàn vốn CAR theo Hiệp ước Basel I Ban hành năm 1988 và có hiệu lực vào năm 1992, Hiệp ước vốn Basel I lần đầu tiên đưa ra khung đo lường rủi ro tín dụng với hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR (Capital Adequacy Ratio) là 8%.
Hệ số này được xác định như sau: Vốn ngân hàng Hệ số an toàn vốn CAR = Tổng tài sản có rủi ro Trong đó, vốn được chia làm 3 cấp: Vốn cấp 1: là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phòng được công bố gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần phổ thông), vốn dự trữ đã công bố (lợi nhuận không chia); lợi ích thiểu số (minorrity interest) tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính; lợi thế kinh doanh (Goodwill). Vốn cấp 2: là nguồn vốn bổ sung có độ tin cậy thấp hơn như: vốn tăng do đánh giá lại tài sản, các khoản dự phòng tổn thất chung, vốn bổ sung từ các công cụ nợ hỗn hợp (trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp), đầu tư tài chính vào các công ty con và các tổ chức tài chính khác. 11 Vốn cấp 3: là các khoản vay ngắn hạn.